Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

GỪNG NGÂM DẤM

Gừng ngâm dấm sẽ là bài thuốc cực hay, tốt cho sức khỏe của bạn, giúp giảm đau dạ dày, giảm cân, ngăn rụng tóc, chữa cảm lạnh, tăng sức đề kháng, hỗ trợ điều trị viêm khớp…
Trong gừng còn có thành phần hoạt tính alcohols- một chất chống ôxy hóa hiệu quả. Gừng có tác dụng tăng cường tuần hoàn máu, giúp bài tiết mồ hôi và giải độc hiệu quả. Ngoài ra, loại củ này còn ngăn ngừa bệnh xơ vữa động mạch, giảm gần 30% cholesterol trong huyết thanh, và rất tốt cho hệ tiêu hóa.

Theo Đông y, gừng có vị ấm chưa hợp chất hữu ích làm tăng cường quá trình chuyển hóa của cơ thể, thúc đẩy sự trao đổi chất, hạn cế hấp thụ và tích mỡ trong cơ thể nên có tác dụng rất lớn trong việc giảm cân, làm đẹp cho chị em...
Gừng ngâm dấm sẽ là bài thuốc cực hay, tốt cho sức khoẻ của bạn, giúp giảm đau dạ dày, giảm cân, ngăn rụng tóc, chữa cảm lạnh, tăng sức đề kháng, hỗ trợ điều trị viêm khớp…
Đầu tiên bạn hãy chọn những củ gừng ta còn tươi, về rửa sạch đất bùn, sau đó cắt lát mỏng, đều. Phải là gừng tươi mới có tác dụng chữa bệnh, giúp tăng tuần hoàn máu, tăng cường tiêu hoá.
Xếp gừng vào chai thuỷ tinh, đổ dấm gạo vào. Lưu ý chai thuỷ tinh phải sạch, khô, không mùi… Bạn có thể bảo quản dấm gừng ở nơi thoáng mát hoặc ngăn mát tủ lạnh. Sang tuần sau, vào mỗi buổi sáng hãy ăn 2-4 lát gừng tươi, có tác dụng ổn định huyết áp, hỗ trợ điều trị bệnh viêm khớp.
Ăn gừng ngâm dấm hay một thìa con nước dấm còn có tác dụng tiêu mỡ, đốt sạch chất béo, lọc và đào thải chất cặn bã ra ngoài cơ thể. Ngoài ra, còn tốt cho gan, ngăn triệu chứng rụng tóc, nhất là khi thời tiết đang giao mùa.
Đặc biệt, với đấng mày râu, gừng ngâm dấm còn là liều thuốc tự nhiên tăng cường thể lực, tráng dương…
Mỗi đêm trước khi đi ngủ, cho vài lát gừng, vài thìa dấm vào chậu nước ấm, sau đó ngâm đôi bàn chân vào chừng 30 phút cho đến khi nước nguội hẳn. Thực hiện liên tục trong khoảng tháng rưỡi, làn da của bạn được cải thiện, chứng mất ngủ cũng không còn.
Theo Khoevadep.com.vn

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Sửng sốt với bình rượu 18+ độc nhất vô nhị

Mạn đàm về Văn tế thập loại cô hồn


Mạn đàm về Văn tế thập loại cô hồn

Hơn ai hết, Nguyễn Du đã ý thức rõ luật vô thường của nhà Phật. Có lẽ chứng kiến bao bi kịch thời Lê Mạt, tác giả đã đem từng khúc ruột quặn đau của mình làm bút, trích từng giọt lệ rớm máu của mình làm mực, viết nên một tình tự nồng nàn da diết, nỗi lòng Tố Như hay tiếng ngậm hờn thiên cổ kiếp sống phù du? Ai đó trong cõi mang mang trường dạ hẳn đã nghe ra niềm cảm thông buốt lạnh tồn sinh, rưng rưng kiếp số và thổn thức nhân tình. Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại ngậm ngùi đến thế.
Mùa Vu Lan nhiều website đã giới thiệu với quý độc giả bài “Văn tế Thập loại chúng sinh” của Đại thi hào Nguyễn Du. Hơn ai hết, Nguyễn Du đã ý thức rõ luật vô thường của nhà Phật. Có lẽ chứng kiến bao bi kịch thời Lê Mạt, tác giả đã đem từng khúc ruột quặn đau của mình làm bút, trích từng giọt lệ rớm máu của mình làm mực, viết nên một tình tự nồng nàn da diết, nỗi lòng Tố Như hay tiếng ngậm hờn thiên cổ kiếp sống phù du? Ai đó trong cõi mang mang trường dạ hẳn đã nghe ra niềm cảm thông buốt lạnh tồn sinh, rưng rưng kiếp số và thổn thức nhân tình. Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại ngậm ngùi đến thế.

Tuy nói rằng có thập loại chúng sinh nhưng thực tế trong bài Văn Chiêu Hồn (một tên gọi khác của Văn tế Thập loại chúng sinh) này Nguyễn Du đã đưa vào đến 13 loại chúng sinh, như trong khoa nghi của đạo Phật có đến 13 loại. Xin chân thành cảm ơn Học giả Nguyễn Minh Tiến http://rongmotamhon.net và thân phụ của anh đã giúp đở cho chúng tôi trong quá trình chú giải những từ Hán, Nôm và truy tìm nguồn gốc một số Kinh tạng để thực hiện bài viết này.

Nghi thức Chẩn Tế cô hồn ở Việt Nam hiện tại gồm có 3 loại : Đại khoa, Trung khoa và Tiểu khoa nghi. Bản Đại khoa mà chúng tôi đối chiếu là “Diệm Khẩu Du-già Tập Yếu Thí Thực Khoa Nghi”, gọi là “Thiên Hòa Tự Tàng Bản” do Tỳ-kheo Tánh Tình phụng khắc vào mùa Phật đản năm Minh Mạng thứ 2 (tức năm Tân Tỵ, 1821). Nếu so với thời điểm Nguyễn Du viết văn Chiêu Hồn (khoảng 1808-1812 hoặc sau nữa) thì bản văn này khắc sau không lâu, điều đó chứng tỏ nghi quỹ này đã có ở Việt Nam cùng hoặc trước thời Nguyễn Du. Trong bản này có khắc lại lời tựa của chính ngài Vân Thê Châu Hoằng viết vào niên hiệu Vạn Lịch thứ 34 (1607). Đối chiếu toàn văn tác phẩm này với tác phẩm của ngài Châu Hoằng trong Tục Tạng Kinh quyển 59 thì đúng là 1 bản.

Chúng tôi còn có trong tay 2 bản Trung khoa, 1 là “Sắc Tứ Báo Quốc Tự Tàng Bản”, do công chúa An Thường cùng một số hoàng thân triều Nguyễn mộ khắc vào năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh có sự chứng minh của Hòa thượng Hải Thuận Lương Duyên; bản thứ 2 là Giác Viên Tự Mộng Sơn tàng bản, được Giáo thọ Minh Khiêm Hoằng Ân (1856-1914) chứng minh khắc tại chùa Giác Viên (trong khuôn viên Đầm Sen, Tp. HCM hiện nay). Trung khoa chỉ là phần lược của Đại khoa. Nội dung khoa nghi này đều có hai phần : Đàn thượng và Đàn hạ. Đàn thượng là các nghi thức nhập đàn, ấn chú, chân ngôn; đàn hạ chính là phần thỉnh Thập loại cô hồn. Nói là Thập loại, kỳ thực thỉnh đến 13 loại và một số loại cô hồn được thỉnh chung. Nội dung văn Chiêu Hồn của Nguyễn Du thì đại đồng tiểu dị với phần Đàn hạ này. Chúng ta thử đối chiếu sơ lược hai phần này để xem chúng giống và khác nhau như thế nào.

Về điểm giống nhau, khoa nghi thỉnh 13 loại cô hồn, tác phẩm của Nguyễn Du tuy nói “Văn tế thập loại cô hồn”, kỳ thực cũng kể đến 13 loại. Ngoài 13 loại được thỉnh riêng, cả hai tác phẩm còn thỉnh chung nhiều loại khác nữa. Khó mà có thể tin được sự sáng tác của Nguyễn Du lại ngẫu nhiên trùng hợp một cách khít khao với một tác phẩm khoa nghi đương thời đã lưu hành như thế. Còn sự khác nhau của 2 tác phẩm, có thể nói nằm ở thứ tự của các loại. Ta thử so sánh.
Chúng ta thử so sánh mười ba loại của khoa nghi là:

1/ Hoàng vương đế bá.   
2/ Anh hùng tướng soái.       
3/Quan văn.               
4/ Văn nhân.
5/ Người xuất gia.           
6/ Đạo sĩ.                               
7/ Thương nhân.        
8/ Chiến sĩ.
9/ Sản phụ.                      
10/ Di địch.                           
11/ Cung phi.            
12/ Cái bang.
13/ Thập loại cô hồn.
Mười ba loại của văn tế là :
1/ Vương giả.      
2/ Công nương.         
3/ Quan văn.  
4/ Quan võ.   
5/ Thương nhân.
6/ Trí thức.          
7/ Ngư phủ.               
8/ Nông dân. 
9/ Chiến sĩ.    
10/ Kỷ nữ.
11/ Hành khất.    
12/ Tù nhân.          
13/ Tiểu nhi.

So sánh hai tác phẩm thì chúng ta thấy rõ ràng 13 loại cô hồn có phần tương đồng, khác chăng là ở quan niệm sắp xếp trước sau. Đặc biệt là ở tác phẩm của Nguyễn Du, tác giả không kể đến người xuất gia (Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni) như ở trong khoa nghi, phải chăng Nguyễn Du cho rằng những người xuất trần thượng sĩ thì sau khi chết sẽ được tiêu dao thoát tục, không còn bị đọa làm cô hồn? Đây cũng là một điều đặc biệt nói lên thái độ của Nguyễn Du dành cho hàng xuất gia. Theo chú giải của ngài Vân Thê Châu Hoằng thì hàng xuất gia nếu hiện đời không liễu sanh thoát tử vẫn có thể bị đọa làm cô hồn, nên vẫn được thỉnh trong khoa nghi. Còn Nguyễn Du, có lẽ tâm hồn ông dành cho những người đau khổ, quằn quại, cô đơn, kể cả hạng Hoàng vương đế bá, còn hàng xuất gia thì không. Có người cho rằng có thể khi Nguyễn Du đọc khoa nghi, ông không hiểu các thành ngữ dành cho hạng xuất gia như : “Hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chơn thuyên; Bạch cổ lê nô, đồ diễn khổ không diệu đạo” … nên đã bỏ qua không kể hạng này. Tôi e rằng như thế có phần võ đoán, bởi lẽ kiến thức uyên thâm về Phật học của Nguyễn Du mà không hiểu mấy câu trên là vô lý.

Điểm thứ hai, mà cũng là điều dễ hiểu, ngôn ngữ trong khoa nghi là ngôn ngữ cung đình, các tầng lớp được kể trong khoa nghi rất đặc trưng và ước lệ, còn trong tác phẩm của Nguyễn Du thì rất cụ thể và gần gũi, sát với thực tế, hiện trạng người Việt đương thời. Nguyễn Du đã Việt hóa khoa nghi bằng thái độ và tâm hồn của mình. Đây là điểm sáng tạo độc đáo.

Bằng sự so sánh và dẫn chứng ở trên, chúng tôi kết luận rằng Nguyễn Du đã diễn Nôm khoa nghi thí thực của Phật giáo thành văn Chiêu Hồn chứ không phải là một sáng tác.
Trong khoa nghi như đã nói ở trên, hạng thứ 13 là Thập loại cô hồn, phải chăng thập loại cô hồn này xuất xứ từ một tác phẩm tương truyền là của vua Lê Thánh Tông? Chúng tôi xin cung cấp cho quý độc giả những bài viết, khảo cứu về vấn đề này trích từ nhiều nguồn mà chúng tôi nghiên cứu, sưu tầm như trang Quangduc.com, hay blog của Sơn Trung.

Có người cho rằng tác phẩm Nôm Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, nói là của Lê Thánh Tông, được giữ lại trong bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập, chính là do Lương Thế Vinh sáng tác. Vũ Phương Ðề, một người đồng thời với Trần Tiến và cùng đậu tiến sĩ như Trần Tiến đã nói rằng: Lương Thế Vinh “từng sáng tác Phật Kinh Thập Giới”có thể là Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn. Nhưng nhận xét nội dung Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, thì thấy tác phẩm không thể là của Lương Thế Vinh. Trần Văn Giáp cho rằng bài Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, không phải là của Lê Thánh Tông: “Theo lời của Vũ Phương Ðề... Lương Thế Vinh là một vị trong tao đàn đời Lê Thánh Tông, chỉ vì làm bài Phật Kinh Thập Giới mà đã bị các nhà nho là bạn đồng nghiệp chê cười mãi, đến khi đã lên thiên cung, đang giảng dạy học trò mà vẫn còn áy náy mãi. Huống chi là Lê Thánh Tông tự gọi là tao đàn nguyên soái, khi nào lại có thể cho phép đưa một bài văn Nôm vào trong bộ sách lớn của triều đình. Sách này lại là sách ghi chép lại toàn điển lệ, cáo sắc v.v... Vậy đối với Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn chưa nghiên cứu được sâu rộng, tôi chưa dám khẳng định là của ai, và làm vào thời nào. Chỉ biết nó không ở đúng chỗ của nó. Nó là một bài văn ở đâu đó, người ta đưa giả mạo vào sách Thiên Nam Dư Hạ Tập để lừa dối độc giả”.

Không chắc quan điểm của Trần Văn Giáp là đúng. Trong Thiên Nam Dư Hạ Tập ta thấy có chép thơ văn của hội Tao Ðàn, trong đó có Quỳnh Uyển Cửu Ca. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ là một tác phẩm Nôm quan trọng, sao lại không thể đưa vào Thiên Nam Dư Hạ Tập, nhất là khi tác phẩm này do Tao Ðàn Nguyên Soái sáng tác.

Chưa có lý do gì để ta nói rằng bài này không phải là của Lê Thánh Tông. Bài văn tuy lấy cảm hứng ở đoạn văn thỉnh thâp loại cô hồn trong Giu Dà Khoa Nghi, nhưng không phải là một bài văn do một người có cảm tình nhiều với đạo Phật như Lương Thế Vinh làm. Ðó cũng không phải là một bài văn có thể thực sự dùng vằo việc cúng cô hồn hay răn dạy cô hồn. Nó có ảnh hưởng cảnh cáo người sống hơn là “răn dạy” người chết. Ðó là tác phẩm của một thi sĩ nho gia mượn đề tài Phật Giáo. Bài thơ nói về cô hồn của các tăng sĩ có những câu sau đây:

Thân tâm rửa sạch quê hà hữu
Giới hạnh vâng đòi giáo Thích Già
Nói những thiên đường cùng địa ngục
Pháp sao chẳng độ được mình ta?

Ta thấy hai câu thơ cuối cùng có tính cách đùa bởn và trên chọc, không phải là văn nghi lễ, cũng không phải là văn”răn dạy” người chết. Trong khi chưa có dữ kiện nào khác, ta hãy tạm cho tác phẩm này là của vua Lê Thánh Tông, bởi khí vị văn chương phảng phất có hương vị một tác phẩm của “Tao Ðàn Nguyên Soái”. Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn là một tác phẩm Nôm cổ gồm có một đoạn mở đầu và mười đoạn nói về mười giới cô hồn: 1) thiền tăng; 2) đạo sĩ; 3) quan liêu; 4) nho sĩ; 5) thiên văn địa lý; 6) lương y; 7) tướng quân; 8) hoa nương; 9) thương cổ; 10) đãng tử.

Sau đây là đoạn mở đầu:

“Riêng xét vậy: ngựa cửa sổ, kiến đầu cành, xem ngày tháng dễ qua thoan thoát; bọt ghềnh sóng, vờ mặt nước, tựa thân thời kíp biến mờ mờ. Cổ thời nhẫn kim; sinh thời có hóa. Ấy vậy, hồn là thần, phách là quỷ; no nên bụt, đói nên ma. Khó miễn sang mặt há khác nhau; đói cũng rách lòng thời cũng vậy. Kìa Khổng Tử ách nơi Trần, Thái, mặt đã rầu rầu; nọ Lương Vũ khốn thủa Ðài Thành, dạ đà lép lép. Tín có thủa lượm tay Phiếu mẫu; bá nhiều phen hổ mặt đồ lê. Tô Lang nằm lỗ gia ăn sương, ruột sầu rười rượi; Chu Dị thấy hạt cơm bám mà lòng tiếc bùi ngùi. Ấy thánh hiền những đấng anh hùng; phải cơ khát đoái chi liêm sỉ. Huống chi cô hồn bay: thác sinh trần thế, chịu âm dương. Có quân tử, có tiểu nhân, chẳng cùng một đấng; trong phong quang, trong nghệ nghiệp, tới ngót mười loài. Ai ai cải lấy lòng phàm; khăn khăn cùng thời nghe giới”.

Và đây là đoạn nói về giới thiền tăng:

“Chịu giáo Thích Già, thìn lòng trì giới. Nhuộm sa vàng màu tươi bông cải; sơn thác đỏ thức chuốc lệch bầu. Mũ tỳ lư rập tăm tắp vỏ dừa, đội khi hầu nắng, gậy tích trượng chỉn lô nhô đốt trúc, chống thủa còn sương. Lần sổ châu chuốt hạt kim cương; quét đôi guốc dạo non linh thứu cương; quét đôi guốc dạo non Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa giảng đã mưa nhộc nhộc, đượm áo nạp đầm đầm; Phiến bối diệp tung gió thổi hiu hiu, quét lòng trần thây thẩy. Già lẫn chiền là nơi ăn ở ; khói cùng mây ấy chốn láng giềng. Hái củi quế tiển trà, khủng khinh một bình một bát; nằm am mây tắm suối, nửa bụt nửa tiên. Náu từ bi kín nước tưới hoa; ngồi thiền định thiêu hương chúc thánh... Ngỡ là ba ngàn cung Ðâu Suất được thoát thân phàm; chẳng cộc mười hai cửa Phong Ðô gây nên mông họa. Hỡi ôi! Sống bởi chưng chưa sạch mọi lòng nhẫn nhục; thác hco phải chịu khó diệt tân toan.

Kệ than rằng:

Một bình bát một cà sa
Náu chốn chiền già làm cửa nhà
Kinh giã ngọc lâu hương lọn triệu
Ðịnh lui thiền viện bóng xoay hoa
Thân tâm rửa sạch quê Hà hữu
Giới hạnh vâng đòi giáo Thích già
Nói những thiên đường cùng địa ngục
Pháp sao chẳng độ được mình ta? "

Những danh từ Linh Thứu, Pháp Hoa, Bối Diệp, Ðâu Suất... là những từ phổ thông thường hay nói đến, được tác giả đem dùng cho có vẻ như một đoạn văn thực sự nói về giới thiền tăng.

Chúng ta hãy đọc một đoạn văn nói về giới nho sĩ sau đây để so sánh, nhất là về phương diện điển tích:

“Ham nói nho phong, toàn nghề cử tử. Cơm áo nhờ ơn cha mẹ; Ðêm ngày đọc sách thánh hiền. Củi quế gạo châu, kham khổ nằm chung trường ốc; song huỳnh án tuyết, dùi mài mến nghiệp thi thư. Giấy làm ruộng, bút làm cày; hôm xem kinh, mai xem sử. Trướng Mã Dung, màn Ðổng Trọng, lạnh lùng nào quản tuyết sương; đèn Hàn Tử, gối Ôn Công, thức nhắp chẳng lìa nhật dạ. Lặn lội rừng Nho bể học; ngâm nga ý Khổng lòng Chu. Công đăng hỏa đã dày; tài văn chương càng nhọn. Lẽ lưỡi nuốt chằm Vân Mộng, cách nương long dư ngàn đội giáp binh; chép miệng luận sư Tôn Ngô, rủ tay áo n ăm bảy thiên thao lược. Ðứng tao đàn gióng cờ nghe trống; đến tự tường ngang tích cầm thương. Tuyết Bá Ngạn hoa Ðỗ Lăng, chẳng câu chẳng lạ; thiếp Lan Ðinh tập Liên Xã mọi khúc mọi mầu. Thơ ngâm quỷ khốc thần sầu; khúc ngợi non cao nước chảy. Buộc miệng nuốt châu là ngọc; day tay giở cức bắn dương. Sách đối đan trì, văn chói chói gấm trên bà ngựa; tên bay kim bảng, tiếng sầm sầm sấm dưới đất bằng. Ruổi dặm dài quyết chí côn bằng; giúp đời trị mừng điềm lân phượng. Ngỡ là bể Doanh Châu, non Bồng Ðảo, mình được hóa tiên; chẳng cốc quê Hoàng nhưỡng, núi Bắc mang, thân đà nên quỷ. Hỡi ơi! Sống bởi chưng bàn bạc sự người; thác cho phải phiêu lưu đôi chốn.

Kệ than rằng:

Kềnh kềnh áo bả lẽn khăn sa
Trường ốc hôm mai để lệ nhà
Lạnh lẽo đường thu như án tuyết
Nắng sương mấy phút lọn hài hoa.
Tài cao hơn nữa Công Tôn sách
Sự thịnh còn truyền Nịnh Thích ca
Bút mực chẳng quên bề chí lũ
Lộc cao sao khéo lỡ người ta”.

Các bài thơ kệ đều lấy vần sa, chứng tỏ có sự họa vần ngâm vịnh; điều này khiến ta nghĩ đến hội Tao Ðàn. Ta cũng lại nhận thấy rằng đoạn nói về nho sĩ đầy dẫy điển cổ: Mã Dung, Ðổng Trọng, Hàn Tử, Ôn Công, Bá Ngạn, Ðỗ Long, Lan Ðình, Liên Xã v.v... So sánh, ta thấy ngay một sự mất thăng bằng lớn về điển tích. Về giới nho sĩ nói đến đến Hàn Tử, gối Ôn Công, thì về giới thiền sư đáng lý phải nói “trà Triệu Châu, bánh Vân Môn” hay “củi Tuyết Phong, đá Thạch Ðầu” chẳng hạn. Ðiều này càng cho ta thấy như đã nói một lần, tác giả là một nhà nho lấy đề tài Phật học để ngâm vịnh.
 
THẬP GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN
NGUYỄN THIÊN THỤ
sưu tập và chú giải

Riêng xét vầy (1):
Ngựa cửa sổ (2), kiến đầu cành (3), xem ngày tháng dễ qua thoăn thoắt,
Bọt ghềnh sóng (4), vờ (5) mặt nước, tựa thân người kiếp biến mờ mờ (6).
Cổ tới nhẫn (7) kim,
Sinh thì có hóa.
Ấy vậy:
Hồn là thần, phách là quỷ;
No nên bụt, đói nên ma.
Khó lẫn (8) sang, mặt cả (9) khác nhau,
Đói cùng rách, lòng thì cũng vậy.
Kìa Khổng tử ách nơi Trần Thái (10), mặt đã rầu rầu.
Nọ Lương Vũ khốn thuở Đài Thành (11), dạ đà ngằm ngặp.
Tín có thuở lượm tay Phiếu mẫu (12),
Bá từng phen hổ mặt Đồ lê (13).
Tô lang nằm lỗ giá ăn sương (14), ruột sầu rười rượi;
Châu Dị thấy hột cơm bám má (15), lòng tiếc ngùi ngùi.
Ấy hay những đấng anh hùng
Phải cơ khát đoái chi liêm sỉ.
Huống chi cô hồn bay
Thác sinh (16) trần thế
Chịu khí âm dương,
Có quân tử, có tiểu nhân, chẳng cùng một đấng;
Trọng phong quang, trọng nghề nghiệp, tới phút mười loài.
Ai ai đổi lấy lòng phàm,
Khăn khắn (17) cùng thì nghe giới.

THỨ NHẤT GIỚI THIỀN TĂNG RẰNG:

Chịu giáo Thích Ca,
Thìn lòng trì giới.
Nhuộm sa vàng màu tươi bóng cải (18),
Sơn thác (19) đỏ thức chuốt trái bầu.
Mũ tì lư (20) rập tăm tắp vỏ dừa, đội khi hầu nắng,
Gậy tích trượng (21) chỉn lô nhô đốt trúc, chống thuở còn sương.
Lần sổ châu (22) chuốt hạt kim cương,
Quét đôi guốc dạo non Linh Thứu.
Kinh Pháp Hoa giảng đã mưa sùng sục, đượm áo nạp đùng đùng;
Phiến bối diệp (23) tụng thổi gió hiu hiu, quạt lòng trần thẩy thẩy.
Già lẫn chiền (24) là nơi ăn ở,
Khói cùng mây, ấy chốn láng giềng.
Hái củi quế tiên trà(25), khủng khỉnh một bình, một bát,
Nằm am mây tắm suối, nghêu ngao nửa bụt nửa tiên,
Nâu từ bi kín nước (26) tưới hoa,
Ngồi thiền định thiêu hương chúc thánh.
(Ngỡ) là ba ngàn cung Đâu suất, được thoát thai phàm,
Chẳng cốc (27) mười hai cửa Phong Đô (28), gây nên mộng họa.

Hỡi ôi!
Sống bởi chưng chưa sạch mọi lòng nhẫn nhục,
Thách cho phải chịu khó diệt đoạn tân toan.

Kệ than rằng:
Một bình, một bát, một cà sa,
Náu ở chiền già làm cửa nhà.
Kinh đã ngọc lâu hương lọn triện (29),
Định lui thiền viện bụng say hoa.
Tấm thân rửa sạch quê hà hữu, (30)
Giới hạnh vâng đời giáo Thích Ca,
Nói những thiên đường cùng địa ngục,
Pháp sao chẳng độ được mình ta?

THỨ HAI GIỚI ĐẠO SĨ RẰNG

Vốn con bách tính
Vâng phép tam thanh (31).
Xem đạo phái (32) lau sáng bằng gương
Đọc chân kinh (33) dẻo dang tựa lạt.
Cặp thêu xưởng vẽ, chòi tinh đẩu choáng con sâu,
Chuông động, khánh thôi,điệu cung thương vang cái dế.
Há những sẵn bề khoa níp (34),
Lại hay ngõ thuở tri hành.
Chân bộ Thiên cương (35), dường chín phượng xưa bay cợt gió,
Miệng phun tĩnh thủy (36), tựa năm rồng mới xuống làm mưa.
Đội hoàng quan (37), cài nhặt nhặt trâm ngà,
Tuyên thanh từ (38), cúi lom khom cửa ngọc.
Có thuở mượn oai Chân Vũ (39), lên Huyền Đàn (40), cỡi được hùm đen,
Có khi học phép Sơ Bình (41), quát bạch thạch biến thành dê bạc.
Chăm chắm chức Thần tiêu (42), Lôi phủ (43),
Lân la áng Ngọc nữ, Kim Đồng (44)
Ngỡ là lò đan dược thuốc màu, xương phàm thoảng nhẹ.
Chẳng cốc quê hắc tham (45) đêm vắng, hồn bướm thoắt bay.

Hỡi ơi,

Kệ than rằng:
Tổn công ngày tháng luyện đan sa,
Phương sĩ tìm chơi để lễ (46) nhà.
Triều đẩu hùng hùng chân bước nguyệt,
Bộ hư (47) văng vẳng tiếng tan hoa.
Ngọc thanh mê tỉnh chưa đi đến,
Giới lộ (48) hoàn hồn xảy lại ca.
Đội lốt Thiên tôn (49) đi độ thế,
Độ người ai kẻ độ mình ta?

THỨ BA GIỚI QUAN LIÊU RẰNG
Mừng hội công danh,
Đua tài văn võ.
Chễm chện áo dài, đai rộng
Nghênh ngàng đòng cả, mác dài (50).
Xe kin kít, ngựa nhanh nhanh, dạo cáng tía bội bội đỏ
Áo phê phê, khăn đội đội, che dù đen ngăn ngắt xanh.
Chen vai ngõ mận tường đào,
Nối gót đài loan các phụng.
Có kẻ đội điêu thuyền (51) nhẵn mặt,
Có người vận giải trãi (52) ngang ngang.
Trông trời Nghiêu năm thức hồng vân, xem thể thiên nhai lồ lộ,
Rợp sân Hán đôi hàng ngọc duẫn (53) đứng bày triều sĩ đùn đùn.
Có kẻ vâng chén ngọc đền rồng
Có kẻ giắt trâm ngà tóc phượng.
Vào thì làm rường làm cột, khoẻ chống miếu đường.
Ra thì nên ải nên thành, bền che phiên trấn.
Vinh hoa lợp thế,
Công nghiệp hơn người.
Ngỡ là lý sương dẫm thuở giá bền (54), bể triều quan vượt khỏi,
Chẳng cốc trường phú quý tan khi mây nổi, thân ảo hóa khôn cầm.

Hỡi ôi!
Sống bởi chưng béo nghĩ gầy người
Thác cho phải đói ăn khát uống.

Kệ than rằng:
Điêu đang ngan ngát áo hồng sa,
Mừng chịu ơn phong xuống tới nhà.
Tán rợp bóng hòe che mặt ngọc,
Hương ngừng dặm liễu đượm hài hoa.
Tiệc vầy la ỷ (55) ngồi sum họp,
Nhạc vỗ cầm tranh (56) tiếng dõi ca.
Phú quý nhìn xa yêu hết tấc,
Máy nghèo (57) sao khéo hãm người ta!

THỨ BỐN GIỚI NHO SĨ RẰNG

Ham thói nho phong
Mến nghề cử tử.
Cơm áo nhờ ơn cha mẹ,
Đêm ngày đọc sách thánh hiền.
Củi quế gạo châu (58), kham khổ nằm chưng trường ốc,
Song huỳnh án tuyết (59), dùi mài mến nghiệp thi thư.
Giấy làm ruộng, bút làm cày,
Hôm xem Kinh, mai xem Sử.
Trướng Mã Dung (60), màn Đổng Trọng (61), lạnh lùng nào quản tuyết sương.
Đèn Hàn tử ( 62), gối Ôn công ( 63), thức nhắp ( 64) chẳng lìa nhật dạ.
Lặn lội rừng Nho biển học,
Ngâm nga ý Khổng, lòng Châu (65),
Công đăng hỏa (66) đã dày,
Tài văn chương càng nhọn.
Lè lưỡi nuốt chằm Vân Mộng (67), cách nương long (68) dư ngàn đội giáp binh,
Chép miệng luận sự Tôn Ngô ( 69), rủ tay áo năm bảy phen thao lược.
Đứng tao đàn (70) gióng cờ nghe trống.
Đến từ tường (71) ngang thiết cầm thương.
Tuyết Bá Ngạn (72), hoa Đỗ Lăng (73), chẳng câu chẳng lạ.
Thiếp Lan Đình (74), tập Liên Xã ( 75), mọi nét mọi màu.
Thơ ngâm quỷ khốc thần sầu,
Khúc ngợi (76) non cao, nước chảy ( 77).
Buột miệng nuốt châu nhả ngọc,
Dang tay dơ cức (78) bắn dương (79).
Sách đối đan trì (80) văn choi chói trên bà ngựa.
Tên bày Kim bảng (81) tiếng ầm ầm dưới đất bằng.
Ruổi dặm dài quyết chí côn bằng (82)
Giúp đời trị mừng điềm lân phượng (83)
Ngỡ là bể Doanh Châu, non Bồng Đảo (84), mình được hóa tiên.
Chẳng cốc quê hoàng nhưỡng (85), núi Bắc mang (86) thân đà nên quỷ.

Hỡi ôi!
Sống bởi chưng bàn bạc sự người (87)
Thác cho phải phiêu lưu đòi chốn.

Kệ than rằng:
Kềnh kềnh áo bả (88), lẫn khăn sa,
Trường ốc hôm mai để lẫy (89) nhà.
Lạnh lẽo dường thu (90) như án tuyết,
Nắng sương mấy phát rộn hài hoa.
Tài cao hơn nữa Công Tôn Sách (91),
Sự thịnh còn truyền Nịnh Thích ca (92)
Bút mực chẳng quên bền chí cũ,
Lộc cao sao khéo lỡ người ta?

THỨ NĂM GIỚI THIÊN VĂN ĐỊA LÝ RẰNG

Biết sự thiên văn,
Thông đường địa lý.
Bày đặt tháng ngày làm cục,
Vẽ vời non nước nên đồ.
Suy vần ngọc khuyển, kim kê (93), bằng tên bắn đụn,
Làu sạch thanh long, bạch hổ (94), tựa gỏi rửa bè.
Đã tính phép ngươi Tăng (95), ngươi Dương (96),
Lại ngỏ số ông Chu, ông Thiệu (97).
Dồn cửu cung, bát quái (98) , vào một nắm tay,
Làu vạn thủy thiên sơn, trước đôi con mắt.
Lừa lọc lục nhâm tẩu mã (99),
Tỏ tường tứ thú giao cầm (100).
Đặt địa bàn (101) kim dõi nam châm, biết phương chỉ nhâm, chỉ bính.
Xem thiên tượng chuôi vần Bắc Đẩu, hay tháng kiến tí, kiến dần (102).
Khen huyệt lành: long đái ấn hổ phụ tinh (103),
Chê đất xấu: quy tàng hình ( 104), phượng chiết dực (105).
Chống gậy lụi bịt sắt, dầu đã lép thau,
Đo thước trúc, mò gang tay phân làm tấc.
Lựa đồng hồ, khắc hay dài vắn,
Xoay trắc ảnh (106), bóng biết thấp cao.
Những mong Quách Phác ( 107) tầm long, hàm rồng hẳn được,
Chẳng cốc Trang Chu (108) hóa điệp, hồn bướm thoát bay.

Hỡi ôi,

Sống bởi chưng tiết lộ thiên cơ,
Thác cho phải trầm luân địa ngục.

Kệ than rằng:

Từng luân thiên đệ lẫn long sa,
Điểm huyệt tầm long khắp mọi nhà.
Dạo đòi phương, chân đạp tuyết,
Trông tầm khí, mặt xẩy hoa.
Long bàn hổ cứ xem nhiều thế,
Vận thịnh thời suy đọc mọi ca.
Những nói dữ lành rằng bởi đất,
Đất nào hay cãi ngược người ta?

THỨ SÁU GIỚI LƯƠNG Y RẰNG

Nghiền nghĩ Y thư
Nỏ nang phương dược.
Khắp tiên phố (109) mọi cây , mọi cỏ,
Lảu Tụ trân ( 110) nhiều nẻo nhiều phương.
Vị phụ tử, đinh,hồi, thơm nữa hương ngừng ngoài mũi.
Tay quân thần, tá, sứ thuộc bằng cháo chín trong lòng.
Chẩn mạch biết tử sinh,
Nghiệm chứng hay thọ yểu.
Cối đâm thuốc, chày còn đốp đốp, lèn dỡn bóng trăng soi (111),
Bếp tiên trà, bọt mới xèo xèo, hầu lên tăm sắt(112).
Phương liệu hay gia, hay giảm,
Mặt điêu hoặc tán, hoặc tiên (113).
Rây bắc dược bột đầy sàng,
Thái nam đan dao tựa nước.
Hai mớ xà sàng, một nắm ké, cứu kẻ trúng phong,
Nửa bó phượng vì, ba lát gừng, giúp người hạ lị.
Mạch chín hậu (114) xem chẳng có sai.
Ngải ba năm chỉn là cực hiệu.
Có ngày giăng túi An kỳ sinh ( 115) , hỏi sự thần tiên bao nả?
Có thuở giắt tay Xích Tùng Tử ( 116) , tìm phương tịch cốc dường nào!
Ngỡ là được mỗ chén tràng sinh
Chẳng cốc một mai đoản mạnh.

Hỡi ơi!
Sống bởi chưng gia giảm lỗi phương,
Thác cho phải cơ hàn đòi chốn.

Kệ than rằng:

Ngưu hoàng, long não lẫn thần sa,
Mật kín, phương mầu tích để nhà.

Châm chính ngỏ hay nơi mạch lạc,
Thuốc dùng nghiệm biết chốn tinh hoa.
Tụ trân học lảu thông nhiều chứng,
Hoà thúc (117) phương mầu thuộc mọi ca.
Cao thấp ai ai đều giúp được,
Giúp người sao chẳng giúp mình ta?

THỨ BẢY GIỚI TƯỚNG QUÂN

Lảu hay ba kế (118)
Gồm lọn năm tài (119).
Miệng thèm thuồng giương ( trương ) dạ nuốt trâu (120),
Chí hăm hở dang tay bắn vượn.
Hay mưu hay địch,
Có dũng có oai.
Ngọn cờ xanh mở gió cuốn mây, phất qua doanh Liễu (121),
Mũi thương bạc tôi sương mài gió, chỏ ( trỏ) tới ải Du (122),
Có kẻ vây cánh tựa ngạc, tựa bằng,
Có kẻ nanh vuốt bằng hùng, bằng hổ.
Cật những dầm sương dãi nắng, nổi phỏng tựa bánh cong (123).
Mình hằng lặn suối trèo non, xem trời bằng lá má (124).
Hiểm nghèo trải thấy,
Khó nhọc từng quen.
Hoặc có kẻ đánh nội, đánh thành,
Hoặc có kẻ đem binh đem sĩ,
Vào hàng trận xông pha mấy phát, mình ngại chi cầm thuẫn (125) cầm đòng.
Nằm sa trường lạnh lẽo nhiều thu, tai hằng mãi tiếng kèn, tiếng giốc (126).
Mải chực thành bền ải kín,
Nào hay tháng trọn ngày qua.
Thề lòng trả nợ quân vương, trỏ trời vạch đất,
Hết sức say nghề chiến phạt, vì nước quên nhà.
Non Thiên Sơn ( 127) mong thuở treo cung,
Sóng Giang Hán (128) chờ ngày rửa mác.
Những dốc tạc danh kim quỹ ( 129), truyền để ngàn thu,
Nào ngờ tỉnh giấc hoàng lương (130), xảy ra mỗ (131) phút.

Hỡi ơi!
Sống bởi chưng cậy sức anh hùng,
Thác cho phải nên thân cơ ( 132) khát.

Kệ than rằng:

Chiến trường ngần ngật khí phong sa,
Đứt ruột đòi phen thuở nhớ nhà.
Tin tuyệt ngày chầy nhàn (133) tử tái,
Sầu tuôn đêm vắng giốc ( dốc) mai hoa.
Trông sông Ngân Hán ba canh nguyệt,
Gõ mái lâu thuyền một tiếng ca.
Ngoài ải Hung Nô mừng dẹp hết,
Công nên nào bõ thác người ta (134).

THỨ TÁM GIỚI HOA NƯƠNG RẰNG

Biếng việc nữ công,
Muốn bề nhan sắc.
Dồi dẽ mi quang mặt phấn,
Sắm lo bên(135) lục má hồng.
Răng đen cười hé nguyệt nga, lác ngờ hột đỗ,
Trán rộng vạch ngang vân trận (136), mẽ tựa hoa mai.
Nụ vàng (137) giắt "pha ngữ" (138) hạt trai,
Quạt ngọc điểm đồi mồi xương vích(139)
Biếc búp dong, tía rọc dáy, yếm chéo cánh, cạnh thêu,
Lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống ( 140) giang chân, thắt đáy,
Tiếng thót ẻo à, ẽo ợt,
Nết làm chuộng quý, chuộng thanh.
Say mây mưa bàn tán mấy cơn, đón nhân tình bằng mèo thấy mỡ,
Đắm trăng gió lân la đòi đoạn, mệt thế sự tựa kiến sa dầu.
Chốc mòng (141) quán Sở lầu Tần (142),
Chấp chới ả Diêu, nàng Ngụy (143).
Quấn quít sự anh, sự ả.
Dập dìu tin bướm, tin ong.
Làm bạn gửi, lấy chồng quyền (144), xụt xịt rằng tôi thương, tôi thảm,
Đưa người lâu (145), rước khách mới, bẻo lẻo chào anh ngược anh xuôi.
Ấy đấng thanh tân,
Này loài thô tục.
Đầu quấn tóc rễ, tấp tểnh phố đắm nguyệt say hoa;
Gót dỉ chân chì, đủng đỉnh muốn mua hài chác ( 146) hán.
Đi ngoay ngoảy dường đầu rối hát,
Dồi nhếch nhác tựa mặt ma trơi.
Song viết ( 147) liền tay, gương lờ (148) non ánh,
Hôm mai họp mặt, nội ( 149) cỏ vườn lau.
Khoe nết thế xem đã dị kỳ,
Ăn lận (150) tính người quen bôi bác.
Ân ái vờ, nhân nghĩa cây vối (151), châu đã đầm đầm,
Nước mắt gừng, tâm sự xôi chiêm (152), suối đà lã chã.
Miệng thốt cười cợt nhợt
Dạ biến đổi tơi bời.
Ngỡ là hoa khoe tốt, nguyệt khoe thanh, sự lẫn lòng nhiều khi đún đởn ( 153),
Chẳng cốc châu dễ chìm, ngọc dễ nát, hồn cùng vía một phút rụng rời.

Hỡi ôi!
Sống bởi chưng dỗ bạc, dỗ tiền,
Thác cho phải xin ăn, xin uống.

Kệ than rằng:
Nức khí thiên hương áo nhẹ sa,
Làng nam, ngõ bắc thiếu nơi nhà.
Đành màu lụa mặc hòng mua phấn,
Ngắt đống tiền ăn để chác hoa.
Lẩn thẩn chẳng thương thân ảo hóa,
Chốc mòng những mải sự giao ca.
Tiếc xuân khôn tiếc, tiếc chăng được,
Ngày tháng ai hầu kẻ đợi ta?

THỨ CHÍN GIỚI THƯƠNG CỔ RẰNG

Họp bạn khách thương,
Làm hàng thị tứ.
Dạo khắp sơn xuyên dã huyện,
Thông thâu hồ hải giang khê,
Chác được cá tươi, họp chúng ăn đòi chiều chợ,
Chờ khi nước cả, gác chèo nằm hóng cửa kênh.
Xuôi giòng ngang, thổi địch ca trăng,
Vượt biển cả kéo buồm xem gió.
Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bị hồ tiêu,
thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vơi then;
Lụa ngũ sắc, vải tam lăng, vóc tố lĩnh, bả cẩm chiên,
quyến Thục, giấy Ngô, phố năm gian chất hầu đẫy nóc.
Toàn những vật yêu, vật lạ,
It nhiều của quý của thanh.
Qua ải buôn cấm vật đem về, ngọc hột trai, châu cửu khúc (154),
Tới chợ lẻ thăng bằng hòa rặc, bạc chân rết, vàng thập thành (155).
Đặt điều nói thuận nhân tình,
Mắt rẻ bán đòi thời giá.
Tính thua được có anh, có ả;
Ước rẻ rúng, một cái một con.
Được thì hớn hở vui cười, mạnh bà cầm rỗ;(156)
Thua thì âm thầm than tiếc, trách kẻ thầy dùi (157).

Mạt bán cầm, ế bán buôn;
Lấy món hơn, bù món thiệt,
Những ước bền nghề thương cổ, nước tuôn cửa lợi chẳng cùng;
Nào ngờ kíp gối Hàm Đan (158), mơ giải giấc xuân nồng xảy tỉnh.

Hỡi ôi!
Sống bởi chưng ăn lãi, ăn lời,
Thác cho phải xin ăn, xin uống.

Kệ than rằng:

Đêm ngày đau đáu nỗi tràng sa,
Của cải đem về để chật nhà.
Lòng mối (159) tính toan đưòng vặt vãnh.
Lưỡi lằn (160) khéo léo thốt văn hoa.
Của phi nghĩa làm nên lợp (161) nước,
Lòng bất nhân truyền để làm ca.
Lừa đảo so xem nào có khác,
Người ta lại bán được người ta.

THỨ MƯỜI GIỚI ĐÃNG TỬ RẰNG

Mặt mũi vẻ vang,
Chân tay dun dẫy.
Sắm của ăn, lo của mặc.
Săn mớ thuốc, sắp mớ cau.

Khoét móng chân, vẹn mẽ đồng tiền,
Nhổ lông mũi, bương đầu cái nhíp.
Tính ở xem đà khác thế,
Nếp đà chỉn thế khéo khoe tràn.
Mũ láng xanh cắt dáng quả cam, mịn bằng như chuốt;
Túi đại hồng đựng xâu trái táo, tròn tựa như vò.
Áo kẽ phải dáng Đông Kinh (162),
Tóc búi học ngưòi Bắc quốc (163),
Khăn cuốn bông cúc,
Quần nhuộm cải hoa
Quạt Đông phiến (164), phất hồng thanh giang,tay cầm thênh thểnh;
Lược Thu Cầu (165), vòng in bán nguyệt, lưng uốn khom khom.
Đã nên mỗ đấng thanh tân,

Lại trọng thuở bề tương thức.
Nghĩ thơ, nghĩ vãn, bẻ bai cách Bắc phong tùng (166),
Đàn sắt, đàn hồ, bỗng thấy xướng" Tây hà liễu"(167).
Dưới khóm trúc mím môi thổi ống,
Trên đường hoè ngảnh cổ bắn cung.
Vây (168) làm đám gà chọi, chó săn.
Đua đòi xóm chim buông, khiếu (169) hót,

Ấy con cắp chợ,
Này chú xứ quê
Để trễ việc cửa việc nhà
Lo lắng đánh đàn , đánh đúm.
Thăm tìm quán khách, chơi bời dại nguyệt, dại hoa,
Đủng đỉnh cầu đình, lơ lửng đứng đường, đứng sá.
Bãi đám hè, sang đám hội;
Chạy cửa Đà, la cửa Mai.
Con kẻ khó, đánh đọ công thần,tâng nhau những ông triều, ông hiển,
Nhà dột bét muốn cho lịch sự, làm tướng pha cái quyển, cái tiêu.
Ăn cà cuống lầm phải bọ hung,
Uống rựơu thiêu (170), nhạt bằng nước lã.
Đánh cờ mo bàn chiếu, đi nước vịt nằm (171),
Đá cầu chuối màng rơm, gảnh chân chó đái.
Lo lắng nước Tần, nước Ngụy,
Lang thang làng bắc, làng nam.

Ngỡ là dặm liễu xuân chầy, bịn rịn vui lòng niên thiếu,
Chẳng cốc cửa cao thu quạnh, bơ vơ lạc núi Bắc Mang.
Hỡi ôi!
Sống bởi chưng ở nết ỡm ờ,
Thác cho phải nên thân đói khát,

Kệ than rằng:
Kềnh khểnh áo bả, mũ lương sa,
Lẩn thẩn hay đâu việc cửa nhà.
Chạy bởi đêm hè sang đám hội,
Dạo chưng làng liễu tới làng hoa.
Say đòi đám bạn chè, bạn rượu,
Vui làm đàn, tiếng xướng, tiếng ca.
Chép miệng cùng nhau rằng lịch sự,
Thế gian ai kẻ dễ hơn ta?

____

CHÚ THÍCH
(1).Riêng xét vầy:
vầy: thế này.Ý kiến của riêng ta là như thế này.
(2). Ngựa cửa sổ: Bạch câu quá khích: ngựa qua cửa sổ. Ý nói ngày tháng qua mau.
(3).Kiến đầu cành: Tích Nam kha ký của Lý Công Tá đời Đường kể chuyện Thuần Vu Phần ở Quảng Lăng, phía nam nhà có cây hoè. Một hôm, Thuần mang rượu uống dưới cây hòe, thiếp ngủ thấy đi làm quan ở quân Nam Kha, 20 năm sung sướng, sau bị thải hồi, tỉnh dậy thấy mặt trời chưa lặn, nhìn lên cây hoè thấy phía nam có đàn kiến.
(4).Bọt ghềnh sóng : bọt nước trên sóng ở ngoài ghềnh. Ghềnh là sông nhỏ.
(5).Vờ mặt nước:một loại sinh vật nhỏ, bay trên mặt nước, sáng sinh ra, trưa chết.
(6).Tựa thân người kiếp biến mờ mờ:giống như một kiếp người biến đổi rất nhanh.
(7) .Cổ tới nhẫn kim:nhẫn: đến, hết, tận), Xưa đến tận nay.
(8). Khó lẫn sang : khó: nghèo khổ; sang:có tiền của, địa vị ( giàu sang) ; lẫn: cùng, với.
(9): cả: tất cả.
(10). Khổng tử :Khổng tử sau khi từ quan đi chu du thiên hạ để truyền đạo. Năm 60 tuổi, Ngài tới đất Trần, đất Thái, biên giới nước Sở thì bị quân bao vây, hết lương thực, học trò bị đói, Khổng tử lo buồn.
(11). Lương Vũ:Lương Vũ Đế, tên là Tiêu Diễn, làm vua 48 năm, cuối cùng bị Hầu Cảnh, một hàng tướng đem quân bao vây ở Đài thành 5 tháng, vua lo sợ mà chết.
(12). Tín: Hàn Tín hàn vi được Phiếu mẫu cho bát cơm.
(13). Bá : Bá: Vương Bá; Đồ lê; cao tăng. Đường thư kỷ yếu chép Vương Bá lúc hàn vi đến ở chùa Huệ Chiếu ở Dương châu ăn chực, c ác sư ghét lắm. Sau 20 năm, Vương Bá làm quan ở Dương Châu, thăm chùa, thấy những bài thơ của ông lúc trước viết trên tường được che bằng sa xanh.
(14).Tô lang: Tô Vũ đi sứ Hung Nô, vua Hung Nô bắt chăn dê cho tới già.
(15).Châu Dị : hiệu Ngạn Hòa quê Tiền Đường, Ngô quận, nhà nghèo làm nghề viết thuê, sau làm quan chức Thị trung triều Lương Vũ Đế.
( 16).Thác: giả, tạm bợ ( giả thác). Thác sinh là sống tạm bợ, sống gửi, sống nhờ!
(17).Khăn khắn: luôn gắn bó, không thay đổi, luôn chân thành, kính cẩn.
(18). Sa vàng: áo nhà sư màu vàng hoa cải.
(19).Sơn thác đỏ: dụng cụ của nhà sư.
(20).Mũ tì lư: mũ nhà sư. Mũ tròn như quả dừa, trên có tượng phật Tỳ Lư, các sư trưởng thường đội.
(21). Gậy tích trượng: gậy của nhà sư, còn gọi là thiền trượng có gắn chuông nhỏ để khi khất thực đến trước nhà rung chuông cho gia chủ biết.
(22). Châu: chuỗi tràng hạt.
(23).Phiến bối diệp : kinh Phật bên Ấn Độ xưa chép bằng lá bối.
(24).Già, chiền : già lam, chùa chiền là nơi thờ Phật.
(25). Tiên trà: nấu trà.
(26). Kín nước: gánh nước.
(27). cốc: biết
(28).Phong Đô : nơi âm phủ, địa ngục.
(29). Lọn: trọn; triện: cửa sổ tròn hình cái triện, có chấn song. Cái bàn nhỏ. Cũng có nghĩa là cái lư hương vì có khắc chữ triện.
(30).Quê hà hữu. Sách Trang tử :" vô hà hữu chi hương" nghĩa là quê hương ở chỗ không có đâu cả.
(31). Tam Thanh: nơi thờ phụng của Lão giáo, là Ngọc Thanh, Thái Thanh và Thượng Thanh.
(32) Đạo phái: giấy triều đình chứng nhận là đạo sĩ.
( 33). Chân kinh: Thần chú.
(34).Khoa níp: kinh điển Lão giáo
(35).Thiên cương: sao Bắc Đẩu.Khi làm phép, thầy phù thủy phải bước chân theo sao Bắc Đẩu.
(36).Miệng phun tĩnh thủy: thầy phù thủy thường phun nước lạnh làm phép.
(37).Đội hoàng quan: mũ màu vàng đội khi làm lễ.
(38).Thanh từ: sớ điệp, thường dùng giấy xanh viết son.
(39).Chân Vũ: Huyền Vũ đại đế của Lão giáo.
(40). Huyền Đàn: tên một vị thần tướng của Lão giáo. Đạo sĩ khi cầu Huyền Đàn để hỏi han các việc thường dùng hình rơm làm phép.
(41).Sơ Bình: Hoàng Sơ Bình. Truyện Thần Tiên c hép Hoàng Sơ Bình người Đan Khê đi chăn dê, được một đạo sĩ đerm đi 40 năm. Anh là Sơ Khởi vào núi tìm thì Bình nói dê ở phía đông núi, thấy toàn là đá. Bình quát một tiếng đá trắng
( bạch thạch) biến thành dê bạc.
(42). Thần tiêu: vị thần tối cao ở tầng thứ nhất trên Thiên Đình.
(43).Lôi phủ :là phủ đệ của đạo sĩ Lôi Tựu, ở chùa Tích Từ, huyện Tiền Đường.
(44). Ngọc nữ, Kim Đồng : đồng nam, đồng nữ.
(45). Hắc tham : giấc ngủ say ( giấc ngủ ngàn năm).
(46). Lễ: là lễ nghĩa của gia đình. Cũng có bản chép là lệ . Lệ là tục lệ, thói quen. Người Nghệ Tĩnh Bình đọc dấu ngã thành nặng.
(47). Bộ Hư: tiếng đọc kinh.
(48).Giới lộ: sương trên ngọn cỏ, cũng là bài ca phúng người chết.
(49). Thiên tôn: thiên thần ( thần linh trên trời).
(50).Đòng, mác : hai thứ vũ khí ngày xưa. Đòng giống như cái giáo, có cán dài, mũi nhọn; mác là dao có mũi nhọn.
(51).Điêu: loài chồn cáo có đuôi dài đẹp. Điêu cũng là tên một loài chim. Thiền ( thuyền) là con ve ( ve ve). Chỉ đại thần trong triều vì các đại thần đôi mũ có lông điêu , và phía trước mũ cài hoa bạc, trên hoa lại khảm hình con ve bằng đồi mồi.
(52).Giãi trãi: tên một giống thú có sừng. Các quan ngự sử thường đội mũ hình con thú này vì nó có linh tính phân biệt kẻ gian người ngay.
(53). Ngọc duẫn: măng ngọc. Đường Thư chép Lý Tông Mẫn làm chủ khảo trường thi, lấy nhiều người tài giỏi thi đỗ nên những người này được gọi là ngọc duẫn.
(54). Lấy ý từ Chu Dịch: Lý sương kiên băng chí ( dẫm chân xuống đất thấy có sương thì biết băng tuyết sắp đến). Ý nói kẻ trí phải biết đề phòng tai họa sẽ đến.
(55).La ỷ: lụa là.
(56) Cầm tranh: các loại đàn. Tranh là đàn cũng có nghĩa là ngọc.
(57). Nghèo: nguy hiểm ( hiểm nghèo).
(58). Củi quế gạo châu : củi đắt như quế, gạo hiếm như châu báu, tức là vật giá đắt đỏ, kinh tế khó khăn.
(59).Song huỳnh, án tuyết: Trác Dận và Tôn Khang đời Tấn nhà nghèo phải bắt đom đóm ( huỳnh) làm đèn mà học. Mùa Đông, Khang nhờ ánh sáng của tuyết mà học.
(60).Mã Dung:tự là Quý Trường, người đất Phù Phong nhà Đông Hán, giữ chức Hiệu thư lang, có hàng ngàn học trò, hàng ngày buông trướng bằng sa đỏ ngồi dạy học. (Hán Thư)
(61).Đổng Trọng: Đổng Trọng Thư người Quảng Xuyên nhà Tây Hán, đỗ đầu khoa Hiền Lương phương chính, giữ chúc Bác sĩ, thường buông màn dạy học, ba năm không ra đến vườn (Hán Thư)
(62). Hàn tử: Hàn Dũ, tự Thoái Chi, làm chức Bác sĩ triều Đức Tông, trong bài Tiến học giải khuyên chăm học.
(63). Ôn công:Tư Mã Quang, tể tướng triều Tống, tác phẩm nổi tiếng là Tư Trị Thông Giám và Độc Lạc Viên tập. Ông rất chăm học, thường gối đầu bằng khúc gỗ tròn, mục đích là khỏi ngủ quên.
(64). Nhắp : ngủ
(65). Khổng, Châu: Khổng tử, Chu Đôn Di ( đời Tống).
(66).Đăng hỏa: Đèn sách ( công phu học hành).
(67).Vân Mộng: một cái đầm ở Kinh Châu, rộng tám chín trăm dặm.
(68). Nương long: cái vú, nghĩa rộng là lòng, mình, bụng. Cách nương long là ở bên mình, trong lòng. Bên mình có quân sĩ nhiều.
(69). Tôn Ngô : tức Tôn Vũ đời Xuân Thu và Ngô Khởi đời Chiến quốc có sách về binh pháp.
(70). Tao đàn : nơi văn nhân thi sĩ hội họp.
(71). Từ tường; tướng giỏi về văn chương. Hàn Lâm viện là nơi tụ hội các văn tài.
(72). Tuyết Bá Ngạn: bài Hiệp khách hành của Ôn Đình Quân" Bạch mã dạ tần tê / Tam canh Bá Ngạn tuyết"( Ngựa trắng đêm thường hí,Tuyết Bá Ngạn suốt ba canh)
(73).Hoa Đỗ Lăng: bài thơ Nhân nhật đăng cao có câu: "Kính thủy kiều nam liễu dục hoàng/Đỗ lăng thành bắc hoa ưng mãn"(Phía nam Kinh Thủy liễu gần vàng/Phía bắc Đỗ lăng hoa nở rộ).
(74). Lan Đình:Vương Hy Chi đời Tấn dùng bút lông chuột viết tựa Lan Đình Tập gồm 324 chữ. Kiểu chữ của ông thành một lối riêng.
(75).Liên Xã: Sư Tề Dĩ đời Đường biên soạn tập Bạch Liên cũng được gọi là Bạch Liên xã, thành một trường phái đặc biệt về thư họa.
(76). Ngợi: khen ngơi.
(77). Non cao nước chảy: ( cao sơn lưu thủy), tích Bá Nha Tử Kỳ
(78). Cức: cây gai, gai góc. Dùng chỉ mũi tên nhọn.
(79). Dương là cây liễu. Lấy tích Dưỡng Do Cơ có tài bách bộ xuyên dương ( nghĩa là đứng xa trăm bước bắn trúng lá dương.
(80).Sách đối : sau khi đỗ thi Hội, các tiến sĩ vào cung vua thi đối sách ( trả lời các câu hỏi của vua ra đề). Thềm cung vua màu đỏ nên gọi là đan trì.
(81.Kim bảng: bảng vàng đề tên tiến sĩ thi đỗ.
(82). Côn, bằng : Côn là thứ cá lớn, bằng là chim lớn. Tích lấy ở Tiêu diêu ký của Trang Tử.
(83).Lân phượng: kỳ lân và phượng hoàng xuất hiện là điềm vua thánh tôi hiền, đất nước thái bình thịnh trị.
(84).Doanh Châu, Bồng Đảo: nơi tiên cảnh. Điển ở Đường Thư
(85). Hoàng nhưỡng: hoàng tuyền.
(86).Bắc mang: nơi có nhiều mộ.
(87). Bàn bạc sự người: Các nho sĩ cứ lo luận bàn các nhân vật kim cổ trong kinh sử.
(88). Bả: sợi tơ, sợi gai.
(89). Lẫy: lừng lẫy, làm cho gia đình lừng lẫy.
(90).Dường thu: nhiều thu.
(91). Công Tôn: Công Tôn Hoằng, tự Quý Tề, đỗ đầu đối sách đời Hán Vũ đế, sau làm thừa tướng nhà Hán.
(92).Nịnh Thích: người nước Vệ, thời Xuân Thu, nhà nghèo sang Tề chăn trâu. Một hôm, Nịnh Thích gõ sừng trâ hát, Tề Hoàn công nghe cảm động, mời về làm thượng khanh.Những bài hát của Ninh Thích tỏ ý ca tụng cảnh nhàn, lánh trần tục.
(93, 94). Tên các hình thể cuộc đất do khoa phong thủy đặt ra .
(95-96). Ngươi Tăng ( chưa rõ), ngươi Dương là Dương Quân Tùng, một nhà phong thủy đời Đường các sách Nghi Long kinh, Hoàng Long kinh, lập Duy phú và mặc Nang kinh về thuật phong thủy.
(97). Chu, Thiệu : Chu Đôn Di, và Thiệu Ung là hai nhà lý học đời Tống.
(98).Cửu cung, bát quái: Kinh Dịch chia ra bát quái tức tám quẻ. Hậu Hán thư nói rằng sao Bắc đẩu di chuyển 8 cung, rồi lại về trung ương là 9 cung.
(99).Lục nhâm: sách nói về phép bói toán ( nhâm, độn). Lục nhâm tẩu mã: cách tính toán để xem bói.
(100). Tứ thú giao cầm: cách tính toán để xem bói.
(101). Điạ bàn: tức la bàn, một dụng cụ để dùng trong thuật phong thủy.
(102). Kiến tí, kiến dần: Năm tí thì tháng tí là nguyệt kiến ,ngày tí là nhật kiến tức là trực kiến. Năm dần thì tháng dần là nguyệt kiến, ngày dần là nhật kiến.
(103).Long đái ấn, hổ phụ tinh: kiểu đất rồng mang ấn, cọp phụ tá.
(104). quy tàng hình: rùa ẩn hình.
(105). phượng chiết dực: phượng gẫy cánh.
(106). Trắc ảnh: cách đo bóng mặt trời.
(107). Quách Phác : tự là Cảnh Thuần, người đất Văn hỉ, nước Tấn, tinh về bói toán, có sách Động Lâm về bói toán.
(108).Trang Chu tự là Tử Hưu, người ấp Mông, nước Tống thời Chiến Quốc, học trò Lão Tử, có sách Nam Hoa kinh, thường nằm mơ thấy mình hóa bướm.
(109).Tiên phố Vườn trồng thuốc của tiên.
(110). Tụ trân: Cuốn sách bỏ túi.
(111).Thành ngữ " Nguyệt trung đan quế" trong sách "Dậu Dương Tạp Trở" (trong cung trăng có cây quế).
(112).Tăm sắt: Nước chưa sôi, mới sủi bọt lăn tăn.
(113).Tán: thuốc bột; tiên: thuốc nước.
(114). Chín hậu: (Cửu hậu), nói về cách xem mạch trong đông y. Có 9 giai đoạn khi bắt mạch.
(115).An kỳ sinh: hiệu Bảo Phác Tử, người đất Lang Da đời Tần, là một người bán thuốc ngoài bãi biển, được gọi là Thiên tuế công.
(116). Xich Tòng Tử: là một vị tiên. Trương Lương, tôi của Hán Cao tổ theo Xích Tùng Tử mà đi tu.
(117).Hoà Thúc : Vương Hòa Thúc tên thật là Vương Thúc Hòa, người Cao Bình nhà Tây Hán, chức Thái Y lệnh. Ông học rộng Kinh, Sử và Y. Ông theo các Y thư củaKỳ Bá và Hoa Đà soạn sách Mạch Kinh và Mạch Quyết.
(118). Đường Thư trong truyện Lý Mật cho biết làm tưóng phải có ba kế sách là thượng kế, trung kế và hạ kế để thắng giặc.
(119). Năm tài. Theo sách Lục Thao Luận Tướng, kẻ làm tướng phải có 5 điều kiện: khỏe, khôn,nhân, pháp lệnh đúng và lòng trung thành.
(120). Nuốt trâu: Xí Tử nói: "Hổ báo chi tử tuy vị thành văn dĩ dĩ hữu thôn ngưu chi khí" nghĩa là giống hổ báo tuy chưa đủ văn thái cũng đã có khí phách nuốt trâu. Nuốt trâu nghĩa bóng là chí khí hào hùng.
(121). Doanh Liễu : nơi đóng quân của tướng Chu Á Phu đời Hán Văn Đế, gần Mông Cổ.
(122). Ải Du: đất Du, nơi biên trấn, thuộc tỉnh Sơn Tây.
(123).Bánh cong: một loại bánh.
(124).Lá má: rau má, một loại rau mọc hoang, lá tròn nhỏ bằng đồng tiền.
(125). Thuẫn: dụng cụ cầm tay che chắn gươm giáo tên.
(126). Dốc: sừng. Ngày xưa dùng sừng trâu bò làm tù và để thổi làm hiệu lệnh.
(127). Thiên Sơn:Địa danh. Núi này ở tây bắc Trung Quốc gần Tân Cương. Đời Đường Cao Tông, Tiết Nhân Quý bắn ba phát tên, giết ba địch quân, làm quân địch hoảng sợ.
(128).Giang Hán: sông Ngân hà. Đỗ Phủ trong bài Tẩy binh mã có câu: "Yên đắc tráng sĩ vãn thiên hà/ Tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng". Mong sao người tráng sĩ dùng nước Thiên hà để rửa giáp binh, nghĩa l2 cất binh khí không dùn nữa.
(129). Kim quỹ: Cái hòm bằng kim loại. Vua Hán Cao đế dùng hòm này ghi tên các tướng có công trạng.
(130).Hoàng lương: còn gọi là mộng kê vàng. Tich Lư sinh nghèo gặp đạo sĩ cho mượn cái gối, bèn nằm mộng thấy thi đỗ, làm quan, tỉnh giấc thì thấy nồi kê chưa chín. Kê là một loại thực phẩm, hạt nhỏ nhu hạt cải, màu vàng đậm, dùng cho chim ăn. Nông dân xưa cũng dùng để nấu ăn: "Con tôi buồn ngủ, buồn nghê/ Buồn ăn cơm nếp, cháo kê, thịt gà".
(131). Mỗ: nhiều nghĩa. Mỗ ông: ông nào đó; mỗ đây: ta đây; mỗ phút: từng ấy phút, phút ấy.
(132). Cơ: đói.
(133). Nhàn tử tái:nhàn là chim nhạn, mỗi năm theo thời mà di chuyển nam bắc.
(134). Câu này lấy ý thơ Tào Tùng:" Nhất tướng công thành vạn cốt khô"( Một tướng lập nên chiến công thì làm cho vạn người chết).
(135). Bên hoặc biên: mái tóc.
(136). Vân trận: mái tóc rẽ ngang giống như làn mây.
(137). Nụ: bông tai. Nụ vàng là bông tai bằng vàng.
(138). Nguyên văn viết "pha ngữ" phải là danh từ để đối với đồi mồi, nhưng chưa rõ là chữ gì.
(139).Vich: một loại rùa.
(140). Xống dang chân: mang váy ( váy rộng có thể dang chân, hoặc quần có hai ống chân?), phía dưới thắt lại ( thắt đáy).
(141). Chốc mòng: mơ tưởng, ước mong.
(142).Quán Sở lầu Tần:Nơi trai gái hẹn hò.
(143). Nàng Diêu, ả Ngụy: Ngụy tử, Diêu hoàng là tên hoa Mẫu đơn. Trong bài Mẫu Đơn ký của Âu Dương Tu, mẫu đơn nhiều cánh màu đỏ là mẫu đơn tướng nước Ngụy, mẫu đơn nhiều cánh màu vàng là của nhà họ Diêu. Theo bài Mẫu đơn vinh nhục của Khâu Toàn, mẫu đơn vàng là của nhà họ Diêu, chỉ vua, con màu đỏ là của nhà họ Ngụy , chỉ hậu phi. Đáng lẽ ả Ngụy, chàng Diêu mới đúng. Nói chung, tich này nói nam nữ nên duyên.
(144). Bạn gửi, lấy chồng quyền : bạn bè, vợ chồng tạm thời.
(145).Người lâu: người cũ.
(145). Tóc rễ: tóc nhiều, cứng như rễ ( toc rễ tre).
( 146). chác: bán. Hài hán: chiếc hài.
( 147).Song viết: chữ này có nhiều cách giải thích. Có thể là song nhặt, là cửa sổ có nhiều chấn song chặt chẽ.
( 148). Gương lờ: lờ là mờ, tối, không rõ. Gương lờ là gương mờ, hay trăng lờ mờ ( gương nga) non ánh là núi phương tây lúc chiều có ánh mặt trời lóe lên..
(149) Nội: ruộng vường, đồng quê.
(150).Lận: làm gian, ăn gian, dối trá.
(151).Cây vối : cây vối lá vị đắng. thường dùng làm nước uống như lá chè.
(152). xôi chiêm: không rõ là nếp vụ chiêm hay nếp Chiêm Thành? Vụ chiêm thì chỉ trồng lúa ngắn hạn, và khoai, bắp, đậu, it khi trồng nếp vì nếp khó trồng, phải đất tốt, có đủ nước. Nếu có nơi trồng nếp chiêm thì nếp này khô khan, cứng, không dẽo thơm như nếp trồng vụ mùa. Đây có lẽ là nếp vụ chiêm, trồng tháng hạ. Trong Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn có nhắc đến sách Trung Hoa khen ngợi thóc nếp Chiêm Thành.
(153). Đún đỡn: đú đỡn.Đùa vui quá đáng, có tính dâm dục.
(154).Ngọc cửu khúc: một thứ ngọc quý, ruột khuất khúc chín vòng.
(155). Vàng thập thành: vàng tốt. Có lẽ là vàng mười. (Đĩ thập thành:đĩ thạo nghề, chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm)
(156).Bà cầm rỗ:Người mua bán, tức thương gia. Ngày xưa, người ta thường dùng thúng, rỗ để đựng đồ.
(157). Thầy dùi: mưu sĩ. Ông thầy bày ra mưu nọ, mánh kia. Cũng gọi là quân sư quạt mo.
(158). Hàm đan: cũng như mộng hoàng lương, mộng Nam Kha.
(159.160).mối, lằn: rắn mối, thằn lằn, bọn tiểu nhân, bụng dạ xấu xa, lời lẽ điên đảo.
(161).lợp nước: phải chăng lợp là rợp như rợp bóng, rợp nước phải chăng là khắp nước?
(162) Đông kinh: đời Lý là Thăng Long, Trần và Lê là Đông Kinh.
(163).Bắc quốc: Trung Quốc. Thời Minh thuộc, nhà Minh bắt dân ta không được cắt tóc ngắn .
(164).Đông phiến: ( phiến là quạt).Đông phiến là tên hiệu hay địa danh nơi sản xuất quạt. Phất: phết, dán giấy hồng có vẽ sông xanh (thanh giang).
(165). Lược Thu Cầu: Thu cầu là tên hiệu hoặc địa danh làm lược. Lược cong có vẽ hình bán nguyệt.
(166).Đông phong tùng: bài thơ, ca.
(167).Tây hà liễu:tên bài ca.
(168). Vây: vây quanh, tụ họp.
(169).Khiếu: còn gọi là khướu, một loại chim biết nói, biết hát như nhồng, yễng, vẹt. . .
(170).Quân cờ bằng mo cau, bàn cờ vẽ trên chiếu là nói nghèo hèn. Cờ vịt nằm là nói chơi cờ thấp.
(171).Rượu thiêu: Rượu mạnh có thể đốt cháy, nhưng rưọu đã đốt rồi thì hóa thành nước lã, uống không còn ngon nữa. Không có tiền phải uống loại rượu này.Các thầy pháp đốt rưọu hay phun rượu trước lửa mà làm phép.
Tác giả bài viết: Hoa Sơn Đỉnh

Khi người thế tục mặc đồ tu

Khi người thế tục mặc đồ tu

Biểu trưng của người xuất gia là “đầu tròn áo vuông”. Thế trừ tu phát - cạo bỏ râu tóc, là “đầu tròn”; áo vuông là chiếc y ca-sa (kasāya), với nhiều mảnh vải ghép lại trông như thửa ruộng (nên cũng gọi là ‘phước điền y’). Ngoài tấm y vàng truyền thống ra, người xuất gia Bắc truyền Việt Nam còn sử dụng tấm áo lam, áo nâu - là màu của khói hương, của vỏ cây, củ, rễ..., màu của “hoại sắc”, cho sinh hoạt thường ngày.
Mặc dù chiếc y vàng mới thực sự là biểu tượng cao quý của người xuất gia, tuy nhiên, trong cuộc sống thường ngày, tấm áo nhật bình, vạt-hò, áo tràng xiên... vẫn là hình ảnh quen thuộc của người tu sĩ - “màu thiền áo mặc đã ưa nâu sồng” (Nguyễn Du). Do vậy, ở đây, “đồ tu” mà chúng tôi muốn đề cập đến gồm chiếc y vàng và cả những loại áo lam, áo nâu mà người tu thường dùng.

Hẳn nhiên “chiếc áo không làm nên thầy tu”, song không ai phủ nhận rằng hình sắc cũng vốn rất quan trọng trong Phật giáo. Chiếc áo tu là biểu hiện của sự khiêm cung, giản dị, nhu hòa, bình đẳng, là sự nhắc nhở thường xuyên về chánh giới và phòng hộ các căn đối với những ai khoác lên mình tấm áo nhu hòa, giản dị mà tôn quý này.

Người tu mặc đồ tu và có trách nhiệm với biểu tượng ấy là điều không có gì phải nói. Vấn đề ở đây là người thế tục mặc đồ tu - vốn đã diễn ra từ xưa, mà nay dường như có phần “thịnh hành” hơn - nên thiết nghĩ cần phải có những ý nghĩ lạm bàn. Mục đích của bài viết này chính là đề cập đến vấn đề ấy.

Giả trang thiền tướng: hám danh, trục lợi.

“Giả trang thiền tướng” là cụm từ thường xuất hiện trong kinh, luật Phật giáo. Đức Phật thường quở trách những vị Tỳ-kheo không lo tu tập, lại chăm chút hình tướng bên ngoài để mong được người đời tôn kính. Chuyện kể rằng, thuở mới xuất gia, Tôn giả Nan Đà thường đắp bộ y sáng chói và mang chiếc bình bát mới tinh đi khất thực nhằm thu hút sự chú ý của mọi người. Còn Tôn giả Ca Lưu Đà Di thì lại chăm bồi dưỡng thân thể cho béo tốt, đường bệ, uy nghiêm. Đức Phật quở trách các vị “giả trang thiền tướng”, chạy theo các dục mà không tu tập theo chánh giới.

Đó là trường hợp các vị Tỳ-kheo lúc chưa ý thức rõ mục đích của đời sống tu hành. Trường hợp khác, việc giả trang thiền tướng không phải là vị Tỳ-kheo mà là những kẻ thế tục ác hành. Kinh tạng Pali (Tiểu bộ kinh) có nêu hai trường hợp giả dạng, đều là những gã thợ săn. Jataka số 221 - Chuyện tấm y vàng, kể chuyện gã thợ săn ở thành Ba-la-nại chuyên mưu sinh bằng nghề săn ngà voi. Gã khoác tấm y vàng, giả trang thành vị Độc Giác Phật, núp bên vệ đường chờ đàn voi đi qua thì dùng binh khí giết con voi cuối đàn. Đến khi voi chúa phát hiện đàn voi ngày càng giảm thiểu, nghi có kẻ giả dạng tu sĩ sát hại, bèn cố tình đi sau cùng. Khi người thợ săn cầm binh khí xông ra, voi chúa (tiền thân Đức Phật) liền quay lại, đứng giương vòi ra và nghĩ: “Ta sẽ quật nó ngã xuống đất và giết nó!”. Nhưng khi thấy tấm áo vàng người ấy mặc, voi nghĩ: “Ta phải kính trọng biểu tượng của bậc A-la-hán mà nó lạm dụng để mặc”. Nhờ đó mà gã thợ săn không bị voi chúa quật chết. Tương tự như vậy, Jataka số 514 - Chuyện tượng vương ở hồ Chaddanta, kể chuyện về gã thợ săn vâng lời vị hoàng hậu ghen tuông, độc ác, đã băng rừng lội suối tìm giết voi chúa (tiền thân Đức Phật) nhằm lấy cặp ngà. Voi chúa trúng tên, gầm lên dữ dội, xông lại gã thợ săn định chà đạp gã. Nhưng “Voi chúa đã gần giết địch nhân / Vì chứng đau đớn hóa điên cuồng / Nhưng kìa! Ðôi mắt ngài vừa gặp / Biểu tượng thanh cao, chiếc áo vàng / Bộ áo tu hành bất khả phạm...”. Gã thợ săn do đó thoát chết nhờ chiếc áo vàng!

Đức Phật dạy: “Ai đầy những uế nhiễm / Lại mặc áo cà-sa / Tự mình không chế ngự / Không tôn trọng sự thật / Kẻ ấy không xứng đáng / Ðược mặc áo cà-sa”. Dù vậy, hiểu được sự “lợi hại” của chiếc y vàng mà người đời tôn kính, nhiều kẻ thế tục đã không màng đến luật nhân quả, không màng đến pháp luật (giả dạng người khác) hay đạo đức làm người, bôi nhọ chiếc y vàng - biểu tượng tôn quý của Phật giáo, đã ngang nhiên khoác y, cầm bát nghênh ngang ngoài đường cầu xin vật phẩm (và cả tiền bạc). Nhiều người nhầm tưởng họ là tu sĩ khất thực, nên đã tôn kính cúng dường, dù trong lòng cũng không khỏi hồ nghi vì sự “khác thường” trong oai nghi của họ. Những kẻ giả dạng tu sĩ này đã làm xấu đi hình ảnh những hành giả khất sĩ chân chính, đến nỗi Giáo hội phải ra quyết định tạm ngưng việc khất thực của chư Tăng - vốn là một truyền thống cao đẹp của Phật giáo. Và, có vẻ đây là một hiện tượng “nan giải” ở nước ta, qua nhiều năm vẫn chưa giải quyết triệt để!
 
<div center;\"="">
 1
 
 Hình minh họa
 
 
Trên đây là việc giả dạng tu sĩ của những người thế tục hám lợi thông thường. Việc làm này nguy hại, song có lẽ chưa nguy hại bằng việc một người tự nhận mình là cư sĩ (trong Phật giáo, cư sĩ - kulapati - thường chỉ cho những cận sự nam, nữ tu hành theo pháp Phật nhưng vẫn giữ đời sống thế tục), đã cạo đầu, mặc đồ nâu sồng, ngồi trong tư thế thiền định để chụp hình với một cô người mẫu... khỏa thân. Loạt ảnh gọi là “tác phẩm nghệ thuật” này được đặt tên là “Thoát (nude để thiền)” vô cùng phản cảm lại liên quan đến hình ảnh của Phật giáo, đã bị cộng đồng mạng chỉ trích dữ dội. Hay như hiện tượng “đạo sư” tự phong Duy Tuệ mượn khái niệm Phật giáo để lập thuyết, in ấn sách vở, xuyên tạc Phật pháp vẫn tồn tại bấy lâu nay dưới vỏ bọc được gọi “Thiền minh triết”… Vấn đề là “thiền sư”, “đạo sư” giả dạng trong các trường hợp này bị nhiều người hiểu nhầm là tu sĩ Phật giáo, một phần cũng do cách dùng từ mập mờ, câu khách của nhiều tờ báo!

Mặc đồ tu vì một ý muốn tốt lành: Cẩn trọng!

Thực ra, vấn đề chúng tôi muốn bàn đến trong bài viết này không phải là hiện tượng “giả trang thiền tướng”, mà là về việc người cư sĩ ưa mặc đồ tu, đã trở nên một hiện tượng khá phổ biến trong thời gian gần đây. Công bằng mà nói, đây là một hình ảnh đẹp, một ý muốn thuần thiện của người cư sĩ khi họ khoác lên mình bộ đồ tu - có thể là bộ đồ lam thanh nhã hay bộ đồ nâu giản dị. Giản dị là một nét đẹp của Phật giáo. Một nam thanh, nữ tú khoác lên mình chiếc áo tu không khiến họ xấu đi, mà ngược lại, họ trở nên đẹp đẽ một cách lạ thường. Cho nên hiện nay, không chỉ có những vị cư sĩ già mới mặc đồ tu, mà nhiều chàng trai, cô gái, và cả những em nhỏ cũng thích mặc đồ tu khi đến chùa. Mặc quen đâm “ghiền” - một phần cũng do sự thoải mái, nhẹ nhàng mà bộ đồ tu đem lại - nhiều người đã mặc bộ đồ này trong những sinh hoạt thường ngày. Và, chính điều đó đã đem lại những sự hiểu lầm đáng tiếc.

Tôi có một người bạn ưa cạo tóc và thích mặc áo nâu sồng. Một hôm, anh ta đi chợ với vợ, thoáng nghe người ta xì xầm “Coi, thầy chùa mà đi với... gái kìa!”. Trường hợp khác, một chàng trai mặc đồ vạt-hò, chở cô bạn đi ngoài phố. Rất nhiều ánh mắt tò mò hướng về anh ta, có lẽ họ hoài nghi, không biết dưới cái nón bảo hiểm kia có phải là chiếc đầu trọc (vì anh ta cắt tóc rất ngắn!). Lại một trường hợp nữa, một cô Phật tử vốn là giáo viên dạy múa. Một hôm, dạy về trễ, chị vội vàng khoác bộ đồ lam đến chùa tụng kinh mà chưa kịp tẩy trang. Đến giao lộ đèn đỏ, có người nhìn chị, thốt lên: “Trời, bà ni-cô mà trang điểm kìa!”. Lạ là chị để tóc nhưng người ta vẫn cứ hiểu lầm, tất cả chỉ vì bộ đồ tu mà chị đang mặc!

Cách đây không lâu, tại một ngôi tịnh xá ở Tây Nguyên rộ lên việc “nhà sư hiếp dâm một tín nữ”. Báo chí thi nhau đăng tải tin “hot” - giựt gân, tạo nên một làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng. Nhưng thực chất, “nhà sư” đó chỉ là một cư sĩ, trước đó mong muốn được xuất gia nhưng không được chấp thuận, anh ta cũng cạo tóc, mặc đồ tu, ở chùa công quả và do làm “ác hành” nên gây ra sự hiểu lầm tai hại.

Những chuyện hiểu lầm bi hài như thế kể hoài cũng không hết. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nêu lên ý nghĩ rằng, người cư sĩ, hễ khoác lên mình bộ đồ tu, thì phải ý thức được rằng mình đang là một hành giả tu Phật, đang đại diện cho một tôn giáo đề cao chánh giới, sự nhu hòa, nhẫn nhục và giải thoát; do đó, mọi ý nghĩ, hành động phải thật cẩn trọng, tránh gây sự hiểu nhầm rằng “người xuất gia” mà làm những việc không thích hợp, không giữ gìn phạm hạnh. Nếu không, việc mặc đồ tu không những không có ích lợi mà còn vô tình gây ra tội lỗi, tội cho người xuất gia.

Trong Phật giáo, không có pháp phục nào cao quý bằng Chánh định; không có đồ trang sức nào thơm bằng việc trì giới. Nên, dù là người xuất gia hay tại gia, cũng đều nên tâm niệm: “Hằng dụng giới hương đồ vinh thể / Thường trì định phục dĩ tư thân / Bồ đề diệu hoa biến trang nghiêm / Tùy sở trú xứ thường an lạc” (Lấy giới làm hương phấn để thoa thân. Dùng định làm áo mặc hàng ngày. Đem hoa báu bồ-đề mà trang nghiêm khắp cả. Thì dù ở đâu cũng cảm thấy an lạc).
 
 (Theo Báo Giác Ngộ số 699)

Lạy và lễ lạy


Lạy và lễ lạy Lạy và lễ lạy
Nội dung bài viết chỉ trình bày hai hiện tượng: Lạy và Lễ lạy liên quan mật thiết đến việc thờ cúng tổ tiên mà từ lâu đời mặc nhiên coi như phù hợp với bất cứ tín ngưỡng nào. Chết không phải là hết vì dân tộc ta xem “sự tử như sự sinh”, bao giờ cũng “kỉnh như tại” đối với người thân đã khuất bóng.
Lạy Phật

Lạy Phật
Lạy Phật 3 lạy như lạy tiên thánh, thành hoàng. Con gái lạy cha 3 lạy và 1 quỳ trước giờ lên xe hoa về nhà chống: Lạy cha ba lạy một quỳ, Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng. Hậu duệ của danh sĩ Hồ Tông Thốc gốc người xứ Nghệ là Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương (1622 - 1681), hiệu Thọ Mai, lập nghiệp ở làng Hải Thượng, tỉnh Hải Dương, ngụ ở huyện Thọ Xương. Ông làm quan đến chức Tham tụng kiêm Thượng thư Bộ Công, sung Tổng tài Quốc Sử quán. Với ý thức độc lập dân tộc, ông đã vận dụng kinh điển phương Đông soạn sách Thọ Mai Gia Lễ phù hợp với truyền thống và phong tục Việt Nam.Gia lễ thì có nhiều nhưng cốt lõi là 4 lễ chính: Hôn, Quan, Tang, Tế. Tế tức là những nghi thức tế tự, thờ cúng tổ tiên. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết sách Thanh Thuận Gia Lễ, nhưng chỉ nói về Tang và Tế, không đề cập đến Hôn là lễ cưới hỏi và Quan là lễ đội mũ (do chữ quan có nghĩa là cái mũ) khi con trai đến tuổi trưởng thành. Có thể nói trong các lễ nghi cổ truyền không có lạy thì không thành lễ vì dân tộc ta rất tôn trọng lễ giáo

Nhớ cha ông đã sống hồn rất thực,
Sống bện mình vào thớ đất quê hương. 
(Huy Cận)

Nội dung bài viết chỉ trình bày hai hiện tượng: Lạy và Lễ lạy liên quan mật thiết đến việc thờ cúng tổ tiên mà từ lâu đời mặc nhiên coi như phù hợp với bất cứ tín ngưỡng nào. Chết không phải là hết vì dân tộc ta xem “sự tử như sự sinh”, bao giờ cũng “kỉnh như tại” đối với người thân đã khuất bóng.

I. LẠY

Trong dân gian còn truyền tụng nhiều câu ca dao đầy ý nghĩa:

Lạy Trời, lạy Phật, lạy Vua
Để tôi sức khỏe tranh đua giữa đời.


Hoặc:

Cùng nhau giao bái một nhà
Lễ là đủ lễ, đôi đà xứng đôi.
 (Truyện Kiều)
                                 
Chữ “lạy” đi liền với “bái”, với “tạ”, với “khấn”, với “quỳ”, với “vái”:

Chấp tay vái lạy con sào,
Sông sâu chẳng biết, thấp cao chẳng từng.


Chữ Hán viết “bái” (拜) dịch nôm là “lạy”. Theo Từ điển Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ thì chữ “lạy” được chuyển hóa từ chữ “Lễ” (禮). “Nghe lời sửa áo cài trâm/ Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghĩa trùng” (Truyện Kiều). Thì ra, người Việt giàu suy tưởng có lễ có lạy, phải lạy mới thành lễ như đã luận giải ở phần vào bài. Thông thường, chữ “lạy” viết bằng chữ Nôm theo cách hội ý gồm chữ “lễ” (禮) và chữ “bái” (拜).

Lại nữa, lạy vừa là danh từ vừa là động từ - Là danh từ khi hiểu nghĩa “theo văn cảnh” chỉ trỏ sự lạy hoặc việc lạy; khi hiểu nghĩa là động tác thể hiện lòng cung kính mang ý nghĩa hoặc sắc màu thiêng liêng. Thực hiện nghĩa cử “lạy” thì người lạy phải chân thành, có niềm tin trong sáng và chính đáng - Sách Gia Lễ do các tác giả gồm Cử nhân Hán học Bùi Tấn Niên và Nguyễn Hữu Duệ, Lý Thái Anh xuất bản năm 1972, thì “bái là lạy” theo lối phủ phục toàn thân. Đó là một tiểu tiết trong tục tế lễ thần thánh, tế tổ tiên. Lẽ tất nhiên trong động thái này có việc quỳ gối mà chữ Hán viết là “quỵ”. Khi xướng âm người đọc nghe mơ màng như “quỳ”.

Không thể hiện lòng nhân, nghĩa tín thành trong tế lễ thì dù mâm cao cổ đầy chỉ là cách phô trương hình thức bên ngoài mà thôi. Minh triết dân gian dạy rõ:
Trứng rồng lại nở ra rồng,

Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.
Có cha sinh mới ra ta,
Làm nên thời bởi mẹ cha vun trồng.
Khôn ngoan nhờ ấm cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ.
Đạo làm con chớ có hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm.

Sách Luận Lý Giáo Khoa Thư dành cho lớp Sơ đẳng (lớp 3 ngày nay) do Nha Học chính Đông Pháp ấn hành lần thứ 5 năm 1931 tại Hà Nội, có bài dạy “Thờ phụng Tổ tiên”, với bài tiểu dẫn “Lòng nhớ tổ tiên”, nguyên văn như sau:

Đời vua Minh Mạng, có một người ở Bắc kỳ đổ cử nhân, được bổ vào làm Hành tẩu trong kinh. Nhưng vì nhà nghèo và không quen biết ai, cho nên mãi không được thăng bổ chức khác. Người ấy làm hành tẩu đến mười lăm, mười sáu năm trời, lương bổng không đủ ăn, mà muốn về cũng không được. Tình cảnh tuy khổ sở như thế, mà đến ngày giỗ ông, giỗ cha cũng cố dành được ít tiền, mua hương hoa bày lên cúng lễ.

Một hôm, gặp ngày giỗ cha, người ấy soạn đồ cúng xong, ngồi ngâm thơ mà khóc. Chợt khi vua vi hành đi qua đến cửa, nghe thấy than khóc, mới vào hỏi:

- “Sao mà thầy than khóc thế?”

Người ấy nói rằng: “Hôm nay là ngày giỗ cha tôi. Tôi học hành đã đỗ lên được, mà bao nhiêu lâu nay, không làm nên gì cho vẻ vang đến ông cha, thậm chí đến ngày giỗ cha, cũng không có gì mà cúng, cho nên tôi nghĩ mà tủi thân, ngâm mấy câu thơ cho giải phiền.

- Vua nói: Tôi là người làm việc ở trong Nội, có được thân các cụ Thượng, vậy thầy có muốn gì, tôi có thể giúp cho thầy được.

- Người kia nói: Tôi chỉ muốn Triều đình cho tôi trở về quê hương để kiếm nghề làm ăn mà phụng thờ tổ tiên”.

Vài hôm sau, người ấy quả nhiên nhận được giấy trong Bộ cho về quê quán. Về đến nhà, lại liên tiếp được sắc nhà vua bổ đi làm quan to.

Ấy cũng vì người ấy có lòng hiếu nghĩa mà cảm động được lòng vua và được hiển vinh.

II. PHÉP TẮC VÀ SỐ LẦN LẠY TÙY THEO LỄ

Tục ngữ có câu nói: “Thờ thì dễ, giữ lễ thời khó”. Trong khi hành lễ nếu biết rõ được ý nghĩa linh thiêng của từng lễ, từng tiểu tiết nghi thức thì ý vị biết dường nào và thấm thía lòng dạ biết bao. Người xưa đã ví von người không biết lạy bái đúng cách thì khác nào như con cóc lạy trời vậy. Nói “xưa bày nay làm” là câu đưa đẩy thể hiện sự tù mù làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng. Cách lạy vừa là mặc ước vừa là quy định theo lễ, theo tình huống mà ứng xử sao cho phải lẽ.

a. Lạy 2 lạy:

Trong tang ma, khách đến lễ khi linh cữu còn quàn tại nhà thì chỉ lạy 2 lạy theo lễ đối với người sống. Nếu chôn cất xong rồi, mới lạy 4 lạy trước bàn thờ hoặc nấm mồ còn thơm mùi đất mới.

Tang chủ đáp lễ thì khách lạy 2 lạy mình lạy 1 lạy; khách lạy 4 lạy, mình lạy 2 lạy.

Trong cưới hỏi, ở lễ hợp cẩn, người vợ trải chiếu, lạy chồng 2 lạy người chồng đáp lại bằng cách vái 1 vái.

Nói cho dễ hiểu theo lối rút gọn: lạy người sống 2 lạy, lạy người chết chưa chôn cũng 2 lạy (vì linh cữu còn quàn ở dương thế), khi chôn quan tài dưới đất xong thì mới lạy 4 lạy.

b. Lạy 3 lạy:

Mỗi làng đều có chùa, thậm chí mỗi thôn cũng có chùa, thành thử nhiều làng có đến ba hoặc bốn chùa. Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt, hoặc lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng.

Lạy Phật 3 lạy như lạy tiên thánh, thành hoàng. Con gái lạy cha 3 lạy và 1 quỳ trước giờ lên xe hoa về nhà chống:

Lạy cha ba lạy một quỳ,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.


Lý giải cho việc lạy 3 lạy nói trên, người xưa vận dụng số 3 như một pháp số. 3 biểu tượng cho Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng); Tam cương (quân, sư, phụ hoặc đạo vua-tôi, cha-con, vợ-chồng). Phải giữ cho các giềng mối vững vàng và bền vững như thế đứng của đỉnh đồng 3 chân. Đó cũng là thế chân vạc như núc kiềng nấu bếp 3 chân vậy. Sách Thiền Tông chỉ nam của vua Trần Thái Tông với lời tựa như sau:

“Tiên Thánh và Đại Sư không khác gì nhau. Coi đó là biết đạo giáo của Phật tổ, còn phải mượn sức Tiên Thánh mới truyền bá được với đời”. (Ngô Tất Tố dịch)

c. Lạy 4 lạy:

Ơn cha nghĩa mẹ nặng sâu dày. Gặp thời không có Phật thì cha mẹ là Phật. Trước khi đi lấy chồng, trước giờ theo họ trai rước dâu, con gái lạy cha 3 lạy thêm 1 quỳ và lạy mẹ 4 lạy với ý nghĩa mong cho con giữ trọn đạo làm dâu nhà chồng, theo phép tam tòng tứ đức.

Trong nghi tiết lễ tế, người xướng đến 34 động thái, còn gọi là tiểu tiết. Lời xướng thứ 8: Tham thần cúc cùng bái có nghĩa là lạy 4 lạy theo nhịp xướng; lời thứ 12: Phủ phục, hưng bái có nghĩa là chủ tế khấu đầu, lạy 2 lạy; lời thứ 32: Hành tạ  lễ cúc cùng bái thì chủ tế và bồi tế lễ tạ 4 lạy…

d. Lạy 5 lạy:

Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Xã hội đất nước thái bình. Trên hòa dưới thuận, trên thuận dưới hòa là hợp lẽ với lý thái hòa. Vua ngự điện Kính Thiên dưới triều Hậu Lê, Vua Nguyễn ngự điện Thái Hòa ở Phú Xuân, quan văn từ tứ phẩm và quan võ tam phẩm trở lên đều lạy vua 5 lạy. Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, phần Lễ Nghi Chí đã viết “lạy vua 5 lạy 3 vái”. Dễ dàng tìm thấy ở nhiều trang. Cụ thể ở “Nghi thức ban chiếu khi vua lên ngôi”, có lời dịch như sau: “Rước ngự giá ra, quan phủng bảo bưng quốc bảo, các tướng sĩ hộ vệ theo hầu đúng như nghi thức, rước đến sân điện Kính Thiên… Rước ngự giá ra đến bệ ngai. Quan phủng bảo đặt quốc bảo trên án…Thông tán xướng: “Cúc cùng bái, hưng (5 lạy 3 vái), bình thân”.

Về “Nghi thức kim sách tấn tôn cho Thái phi” được dịch: “… Hoàng thượng ngự đội mũ xung thiên, mặc áo bào vàng, đai ngọc ngự ra. Các viên chấp sự vâng triệu đến trước làm lễ 5 lạy 3 vái, rồi lui ra đứng chỗ cũ, ai giữ việc nấy…”.

III. LỄ LẠY Ở QUỐC CÔNG TỪ

Từ là miếu thờ thần. Sống làm tướng chết trở thành thần. Còn có nghĩa là nhà thờ tổ tiên, nhà thờ họ tộc. Quan văn có phẩm hàm cao cũng gọi là tướng công chớ không đợi gì đến quan võ. Đền Đức Quốc Công thờ Thái bảo Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng và Quốc Thái phu nhân tức thân sinh và thân mẫu của Chương Hoàng hậu; tức Đức Bà Từ Dũ húy là Phạm Thị Hằng (Nga). Đền ở thôn Vạn Xuân, làng Phú Xuân, huyện Hương Trà (nay thuộc phường Kim Long, thành phố Huế), được xây dựng năm Tự Đức thứ 2 (1849).

Trong khuôn viên thoáng rộng của đền thờ, ở tay phải nhìn từ trong ra ngoài mặt tiền đường Kim Long, có dựng đền thờ Phạm Tộc lấy tên là Tích Thiện Đường(積 善 堂). Ẩn ý của bức hoành phi khắc sơn son thếp vàng ấy được treo ở gian giữa đền thờ ngày trước có nguồn từ tứ tự thành ngữ “Tích thiện phùng thiện”, có nghĩa làm nhiều điều lành, lâu ngày tích chứa lại thì sẽ được gặp điều lành. Đó là tích đức - nghĩa thu gọn của 4 chữ Tu Nhân Tích Đức.

Nhân gian nói: Tu nhân tích đức cho con cháu ngày mai. Không có ai trong thiên hạ đều “giàu ba họ khó ba đời” cả:

Người trồng cây hạnh mà chơi
Ta trồng cây đức để đời cho con.


Chữ “Hạnh” (杏) trong thuật ngữ “cây hạnh” đồng âm với chữ “hạnh” trong tiếng đôi “hạnh phúc” mà người Pháp dịch là bonheur. Người nước ngoài cũng dịch chữ hạnh hoặc chữ phúc trong thuật ngữ “hạnh phúc” là bonheur.

Thiết nghĩ, trong “hạnh” đã có phúc, trong phúc đã có “hạnh”.

Uyên áo thay tiền nhân đã xếp đặt 3 chữ đúc “Tích Thiện Đường” khiến cho người đời sau xây dựng nhà thờ tổ tiên, thậm chí tư gia đã chọn chữ nghĩa như khuôn vàng thước ngọc mà đặt tên cho nhà thờ họ tộc hay làm thành hoành phi để đi chúc mừng lạc thành hoặc khánh thành nhà mới.

Ngày nay con hư, gái cũng như trai, một phần là do ông bà, cha mẹ không quan tâm nhiều đến việc giáo dục con cháu non dại, hoa mắt trước vẻ hào nhoáng của văn minh vật chất, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa rặc màu duy lý. Cho nên tuổi trẻ dễ sa vào vòng vong thân dễ dàng trở thành vong bản vì “giấy rách không giữ lấy lề”.

Vong thân vì thiếu lễ, không biết lễ do học lễ như học vẹt, vì “thiếu hành”. Lời người xưa còn vang vọng đọng lại ca dao như gia huấn ca:

Dạy con từ thuở tiểu sinh
Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi.
Học cho cách vật trí tri,
Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông.


Ngày Tết, ngày giỗ chạp mà con cháu không lo sửa soạn bàn thờ, mua sắm hương hoa vật phẩm; lạy tổ tiên, cha mẹ, anh em sớm khuất bóng là thiếu lễ, là bất hiếu.

Ngày xưa, Tết đến sau lưng, ông vãi thì mừng, con cháu thì lo. Ngày giỗ mà con cháu, dâu rễ không đến hay đến cho có lệ mà không biết lạy là đắc tội với tiên linh.

Ngày 30 anh không đi Tết,
Sáng mồng một chẳng đoái bàn thờ
Hiếu trung chi nữa mà đợi với chờ uổng công.


Vì những lo ngại con cháu giòng tộc Phạm Đăng và đồng hương ở làng Nam Trung gốc Nam Bộ ra kinh đô lập nghiệp, xa quê hương đất tổ cho nên Đức Bà Từ Dũ và các vị bô lão trong họ tộc đã thiết lập Tích Thiện Đường ngay ở phía bên hữu đền thờ Quốc Công và ai nấy đều đồng thuận như một khoán ước bất thành văn là đặt ra Lễ Lạy vào ngày Tết và ngày giỗ chạp để cho con cháu nội ngoại giòng tộc Phạm Đăng đến lễ bái Tổ tiên.

Tuyệt nhiên, giòng tộc Phạm Đăng là thế gia vọng tộc, nếu con cháu muốn cậy quyền cậy thế xin xỏ điều gì có lợi do lòng tham thì đều bị khước từ và lại bị khiển trách không những cá nhân ấy mà ngay cả cha mẹ liên đới chịu tội “không biết giáo hóa tử đệ”, coi thường phép nước: Pháp bất vị thân. Ngay cả việc dân gốc Nam Bộ, huyện Gò Công xin đất để lập làng Nam Trung. Đức Bà Từ Dũ đề nghị cấp đất ở vùng sâu vùng xa nguyên đất hoang hóa ở xa kinh thành chớ không có gì ưu tiên để con cháu tự lực cánh sinh, tuyệt nhiên không có máu cậy quyền cậy thế theo lối “một người làm quan, cả họ được nhờ”. “Đất có lề, quê có thói” là thế ấy. Lẽ tất nhiên trong hàng con cháu có người chưa thuần thành thì đã được các bậc trưởng thành uốn nắn ngay từ móng niệm nẩy sinh trong trứng nước.

Lễ đứng hàng đầu trong ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín xét về mặt giáo huấn và nghi thức. Lễ dạy cho tuổi trẻ thành người có nhân cách, sống có bản lĩnh biết sai-đúng, trái-phải, trên-dưới, thiện-ác… Giữ lễ thì khó khác nào giữ gìn con ngươi của đôi mắt Con Người vậy.

Xin đừng xem việc lạy là chuyện nhỏ và bình thường rồi cho qua một cách hồn nhiên trong việc giáo hóa con cháu trong gia đình và giòng tộc.

Năm Rồng hiện điềm Rồng. Con Rồng cháu Tiên biết giữ lễ làm điểm tựa để điều chỉnh thế đứng mà vươn cao bay xa xứng đáng với lời chúc phúc “Thiên hạ thái bình” đồng nghĩa với “Hạnh phúc như ý” đầu Xuân mới năm Nhâm Thìn, 2012.
 
Tác giả bài viết: Lê Quang Thái

Tại sao Phật Tử phải tu Thiền - HT.Thích Thanh Từ

Tại sao Phật Tử phải tu Thiền - HT.Thích Thanh Từ



Tại sao Phật Tử phải Tu Thiền - Phần 1




Tại sao Phật Tử phải Tu Thiền - Phần 2

-------------------------------------------------------------
 
Hôm nay chúng tôi nói thẳng về đường lối tu Thiền mà hiện chúng tôi đang tu tập và hướng dẫn Tăng Ni Phật Tử cùng tu.
Trước khi vào đề tài nầy, chúng tôi muốn nhắc lại một vài điểm cho quí Phật Tử hiểu rõ. Tại sao gần đây Phật giáo Việt Nam chúng ta ít nói đến tu Thiền mà chúng tôi lại chủ trương tu thiền?

Người tu Phật trước tiên cần phải hiểu rõ ngày xưa đức Phật tu hạnh gì mà được thành Phật. Như tất cả chúng ta đều biết đức Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới cội bồ đề và được giác ngộ thành Phật. Như vậy rõ ràng đức Phật do tu thiền mà thành đạo. Thế nên chúng ta là đệ tử của Ngài, thiết nghĩ cũng cần phải tu thiền để đạt đến sự giác ngộ. Các vị A La Hán như Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên... một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo gần gũi với Phật trong thời ấy, được chứng quả A La Hán đều do tu thiền. Từ Phật giáo Ấn độ truyền sang Trung Hoa, đến chư Tổ hiện giờ ở Việt Nam mà chúng ta thường thờ như Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ Tỳ Ni Ða Lưu Chi... là những vị Tổ cũng tu thiền. Do đó, chúng ta cần phải suy ngẫm về vấn đề này cho thật kỹ, xem mình nên tu như thế nào. Nếu không, chúng ta chỉ đi theo ngọn mà quên gốc.

Người Tây Phương khi nghiên cứu đạo Phật, họ chỉ nghiên cứu tu thiền vì thiền là gốc của đạo Phật. Cho nên nếu các chùa Việt Nam chúng ta không tu thiền thì quả là điều thiếu sót. Riêng tôi, tôi chỉ dẫn quí vị tu thiền; song điều gì tôi biết, tôi làm được thì tôi mới dám dạy người, điều gì tôi không làm được thì tôi cũng không dám dạy ai hết. Bởi tu thiền là một việc rất quan trọng, rất nguy hiểm.

Quí vị cũng từng nghe nói "Coi chừng tu thiền điên". Thật sự nếu tu thiền điên thì ông Phật đã điên trước rồi và đến các Tổ Sư cũng điên luôn. Thật ra, nếu có người tu thiền điên là do người ấy tu sai chớ đâu phải do tu thiền mà điên. Phải nhìn nhận rằng có rất nhiều Phật tử ham tu thiền, nhưng vì không gặp minh sư, không có người hướng dẫn đúng đắn; rồi vì quá ham tu, nên họ đã chạy theo những người tu ngoại đạo thành ra đi lạc. Ðó là cái nguy.

Vì vậy chúng tôi đã dành bao nhiêu năm ở trên núi tìm ra một đường lối tu thiền thật cụ thể từ Ðức Phật cho đến chư Tổ. Chúng ta phải nắm vững đường lối tu thiền, để việc tu của mình không trái với mục đích Ðức Phật đã dạy, không làm cho mình trở thành bệnh nhân, hư hỏng cả cuộc đời. Phải làm sao tu cho có kết quả, không nhiều thì ìt, chớ nhất quyết không phải chỉ tu để mà tu vậy thôi.

Ngày nay khoa học tiến bộ nhiều, mọi người lo lắng làm ăn học hành... Nhất là các nước công nghiệp ở phương Tây, thời giờ là vàng ngọc. Thế mà thỉnh thoảng tới chùa thấy chư sư ngồi im lặng giờ này qua giờ nọ, quí vị ấy nghĩ rằng người tu hành sao tiêu cực quá. Vì vậy nếu không khéo chúng ta rất dễ hiểu lầm đạo Phật.

Một nhà khoa học chuyên nghiên cứu một vấn đề nào thì họ quyết tâm phát minh cho được vấn đề mình muốn tìm. Khi chưa nghiên cứu thành công, phải miệt mài trong phòng thí nghiệm từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác, chăm chỉ theo dõi vấn đề mình đang nghiên cứu đến khi tìm ra được kết quả, một phát minh mới ra đời v.v... người ta gọi đó là nhà bác học. Ðể được như vậy, họ đã phải mất bao nhiêu thời gian kiên trì, tra cứu, suy gẫm, thí nghiệm, lặp đi lặp lại hàng bao nhiêu lần chớ đâu có lăng xăng từ nơi này đến nơi khác, chạy đầu này đến đầu nọ.

Cũng như vậy, một nhà tu Phật là một nhà nghiên cứu chớ đâu phải tầm thường. Các nhà khoa học tìm hiểu, phát minh những gì ở bên ngoài, chinh phục vũ trụ để phục vụ lại cho con người. Còn Phật giáo không tìm những cái bên ngoài ấy mà tìm ngược trở lại bên trong con người.

Tôi sẽ đưa ra một vài điểm để quí vị xét thấy việc nào quan trọng hơn. Tìm hiểu, thông suốt, chinh phục được vũ trụ để phục vụ cho con người là mục đích của khoa học. Nhưng khi hỏi con người là gì thì người ta lại không biết. Cái bản chất thiết yếu của con người thì không biết, trong khi đó đổ bao nhiêu công sức để tìm kiếm, nghiên cứu những phát minh nhằm phục vụ cho con người, đây có phải là vấn đề tối quan trọng chưa? Vấn đề chánh là phải biết con người thế nào? Là gì? Cái gì là mình?

Giờ đây chúng ta bắt đầu xét từ những việc bình thường, gần gũi với mình. Chúng ta lo cho có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, tiền bạc ... là lo cho ai? Cho mình. Lo cho mình suốt cả cuộc đời, nhưng khi hỏi mình là cái gì thì lại không biết. Nếu da thịt gân xương là mình thì chỗ da thịt gân xương nào hư, ta bỏ đi và tìm của người khác thay thế vào. Nếu của mình thì không đổi được, mà đổi được thì có phải là thật của mình không? Cả thân thể này nặng mấy mươi ký, cho là thân mình; nhưng thật ra đó chỉ là một hợp thể do đất, nước, gió lửa cấu thành chớ không có cái thật mình.

Còn sự hiểu biết có phải là mình không Nếu hiểu biết là mình thì nơi mình có trăm ngàn thứ hiểu biết. Khi nghĩ tốt khi nghĩ xấu, khi nghĩ tà khi nghĩ chánh; vậy lúc nghĩ tốt nghĩ chánh là ta, còn lúc nghĩ xấu, nghĩ tà là ai? Chẳng lẽ mình có cái tạp nhạp lộn xộn sao? Khi chúng ta đang khởi nghĩ chuyện hay dở tốt xấu, chúng ta thử dừng lại tìm xem suy nghĩ đó ở đâu? Nhưng khi dừng lại thì nó tan mất. Vậy nó là cái bóng, không thật có. Nếu cho đó là mình thì vô cùng hiểm nguy. Xác thịt này cho là thân mình, cái suy nghĩ lăng xăng cho là tâm mình. Nhận và chấp chặt hai cái đó là mình, cả đời chạy theo nó. Mà chính tâm lăng xăng ấy là chủ tạo nghiệp, dẫn chúng ta thọ nghiệp liên tục trong sanh tử. Lại không biết từ nơi thân tâm giả huyễn ấy có cái chân thật chưa từng bị sanh diệt.

Ðức Phật sau khi giác ngộ, Ngài thấy rõ điều đó. Khi nhìn hồ sen, Ngài nói ta cũng giống như hoa sen. Từ một cái mầm lẫn trong bùn, ra khỏi bùn, trồi lên khỏi mặt nước mới nở thành hoa. Tất cả chúng sanh cũng là mầm của hoa sen, nhưng còn nằm trong bùn, chưa chịu trồi lên khỏi bùn thì biết chừng nào mới nở?

Bùn là Phật ví dụ cho ngũ dục thế gian: Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ ... con người không thoát ra được. Còn đức Phật, Ngài thoát ra được. Từ một Thái tử có vợ đẹp con ngoan, cung vàng điện ngọc ... Ngài từ bỏ thoát ra, rồi tìm cách dần dần dứt trừ phiền não, thoát vòng trầm luân của chúng sanh. Chúng ta hiện đang kẹt trong vũng bùn ngũ dục, nhưng nếu quyết tâm chúng ta cũng có thể vượt lên như đức Phật. Vì vậy, Ngài mới tuyên bố: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", đó là lẽ thật mà đức Phật đã chứng nghiệm được. Ðây là ý nghĩa hết sức thâm trầm của đạo Phật. Ngài không hề nói rằng kẻ này tu được, người kia tu không được; mà ai cũng là mầm, là ngó sen, đến một lúc nào đó cũng sẽ ra khỏi bùn, trồi lên mặt nước và nở thành hoa sen thơm ngát.

Muốn thế, bước đầu của người Phật tử ham tu là phải biết tiết chế ngũ dục. Muốn tiết chế ngũ dục phải giữ gìn năm giới tức là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Tiết chế ngũ dục là sao? Tôi đơn cử hai việc gần nhất là ăn và ngủ. Chúng ta ai cũng thích ăn ngon, nhưng khi ăn quá nhiều thứ ngon thì lại sinh bệnh. Ăn để bệnh thì ăn làm chi? Ðó chính là cái dục làm cho chúng sanh khổ. Những người mê sắc cũng vậy. Chiếm không được thì buồn khổ, chiếm được thì ghen khổ, sợ mất, sợ nhục, sợ thất bại cũng khổ. Rồi đến cái ngủ. Những kẻ mê ngủ, nếu hôm nay ngủ thiếu một hai giờ thì ngày mai phải ngủ bù cho đủ. Nhưng thật ra càng ngủ nhiều, khi thức dậy quí vị càng ngầy ngật khó chịu hơn. Như vậy đâu có gì gọi là sướng. Cho nên sống đúng, có nghĩa là sống phải biết tiết chế, chớ không phải sống buông lung. Tiết chế được thì bớt ham, bớt ham thì dễ tu.

Kế đó chúng ta xem trong mình, ngoài mình, cái gì thật, cái gì không phải thật. Khi tìm được cái thật trong mình rồi thì mọi việc ngoài mình xem như đều được giải quyết hết. Ðây mới là vấn đề cứu kính mà con người cần phải dốc lòng tìm và làm cho được. Ðức Phật và giáo pháp của Ngài ra đời chính vì mục đích ấy.

Chúng ta thấy Phật dạy tu như tụng kinh phải bớt loạn tưởng, niệm Phật phải được nhất tâm, tọa thiền phải định ... Tất cả đều cốt trị tâm loạn tưởng. Bởi vì loạn tưởng là cái tâm lăng xăng, lâu nay chúng ta bị nó dẫn chạy ngược chạy xuôi. Bây giờ phải dừng nó lại thì cái chân thật mới hiện ra, chúng ta mới thấy được con người thật của mình.

Tổ Huệ Năng khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát rồi, Ngài theo lời Ngũ Tổ trốn về phương Nam. Trong chúng có một số người đuổi theo muốn dành lại; vì cho rằng kẻ cư sĩ dốt nát quê mùa như Ngài Huệ Năng không thể kế thế Tổ vị được. Trong số người đuổi theo đó có Thượng tọa Minh là một viên tướng đi xuất gia. Ông phi ngựa rất giỏi nên đuổi theo kịp. Tổ biết không lánh được nên Ngài để y bát trên bàn đá, nói: "Ðây là vật quí trao cho người đạt đạo, chớ không phải là của để tranh dành. Giờ đây có người đến tranh giành thì tôi xin giao cho" Nói xong, Ngài ẩn vaò bụi cây trốn. Thượng tọa Minh đến nơi thấy y bát mừng quá, liền nhẩy xuống ngựa, chạy tới ôm lên nhưng không sao nhắc nổi. Ông biết đây có điều mầu nhiệm chớ chẳng phải việc tầm thường nữa rồi, nên liền gọi Ngài Huệ Năng. Tổ bước ra, Thượng tọa Minh bảo: "Tôi tới đây vì pháp chớ không phải vì y bát, xin Ngài hãy nói cho tôi một câu để tôi được lãnh hội". Lục Tổ bảo: "Nếu thật là vì pháp mà đến thì ông hãy đứng im lặng lắng tâm nghe tôi noí " Thượng tọa Minh đứng yên, Lục Tổ bảo: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Nghe xong Thượng tọa Minh liễu ngộ, xin sám hối và nguyện thờ Lục Tổ làm thầy.

Chúng ta tìm hiểu xem Thượng tọa Minh ngộ ở chỗ nào? Thường tâm chúng ta không nghĩ thiện thì nghĩ ác, không nghĩ ác thì nghĩ thiện. Nếu cả hai thứ đều dừng thì cái gì hiện ra? Từ đó chúng ta mới trở lại vấn đề tọa Thiền. Tọa thiền là ngồi lại, dừng hết cả những niệm tưởng lăng xăng, thiện ác tốt xấu. Dừng được những thứ ấy rồi, xem mình là cái gì? Chúng ta, ai cũng có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Sáu căn này thường có khuynh hướng phóng theo sáu trần bên ngoài, khiến chúng ta chỉ thấy việc bên ngoài mà mù tịt chuyện bên trong. Biết cái ngoài mà không biết cái trong thì gọi là quên mình.

Vậy nếu muốn tìm lại mình, thì phải xoay trở lại, không phóng ra ngoài nữa. Người tu thiền ngồi yên lặng nhìn xuống, mắt lim dim, dồn hết tâm lực soi sáng lại mình, phá tan bóng tối vô minh tự bao đời, tất cả những vọng tưởng lăng xăng đều dừng lặng. Chừng đó bỗng nhiên nhận ra được mình, nhận ra được bản lai diện mục xưa nay của chính mình. Như vậy ngồi thiền có nghĩa là đang khảo sát, đang tìm xem một đề mục rất lớn, đó là: Con người. Một vấn đề hết sức quan trọng của kiếp sống nhân loại. Thế thì tu thiền có phải là tiêu cực không? Ngồi thiền có phải là ngồi chơi, ngồi ngủ cho khỏe không? Thấy được vậy rồi, quí vị mới hiểu được ý nghĩa thâm sâu của việc tu thiền.

Tôi dẫn một câu chuyện trong kinh Lăng Nghiêm, để quí vị thấy hầu hết chúng ta đều lầm lẫn. Trong kinh kể, Ðức Phật muốn chỉ cho Ngài A Nan cái chân thật của mình, Ngài đưa tay lên giữa đại chúng, hỏi A Nan: - Ông có thấy chăng?
Ngài A Nan thưa: - Dạ thấy.
Phật để tay xuống và hỏi: - Ông có thấy chăng?
Ngài A Nan thưa: - Dạ không thấy.
Ðức Phật liền quở: "Ông đã quên mình mà theo vật"

Sau đó Ðức Phật dạy cho Ngài A Nan biết, cánh tay là đối tượng ở bên ngoài, cái thấy là ở nơi chính mình. Vì vậy, khi Phật để tay xuống là thấy không có cánh tay ở chỗ đó chớ không phải không thấy. Cái thấy ấy lúc nào cũng sẵn vậy, luôn luôn hiện hữu bên cạnh mình, chỉ tại chúng ta quên mình, chạy theo vật thành ra không thấy, không biết, chớ không phải nó không có. Ðó là ý nghĩa quan trọng mà đức Phật muốn nhắc nhở cho Ngài A Nan biết và cũng chính là nhắc nhở cho tất cả chúng ta biết.

Quí vị thử nhớ, có hôm nào mình không suy nghĩ gì hết, ngồi ngó trời ngó mây tự tại; nhưng mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, mọi động tĩnh chúng ta đều rõ hết. Như vậy lúc đó có mình hay không có mình? Nếu không có mình thì ai thấy, ai nghe đó? Rõ ràng mình vẫn có thấy, có biết, có nghe, chỉ duy nhất là không có suy nghĩ. Nên biết, cho dù không suy nghĩ ta vẫn hiện tiền, vẫn có mình. Còn khi dấy niệm suy nghĩ thì tâm mình cảm nhận vui khổ, lăng xăng ... Vậy có phải vui cũng tự ta mà khổ cũng tự ta? Vì chưa hiểu được lẽ thật nên chúng ta lấy giả làm thật, rồi chấp chặt đó là thật nên triển miên luân hồi khổ đau trong sinh tử.

Tu Thiền là cốt làm sao cho lặng những thứ lăng xăng đó để đi, đứng, nằm, ngồi, đều được thong dong tự tại. Từ đó, chúng ta mới nhận ra được cuộc sống là an vui, chớ không đau khổ như những kẻ mê lầm bị chìm đắm theo trần cảnh bên ngoài. Vì vậy căn bản thứ nhất của tu thiền là tìm ra cái thật nơi con người, thứ hai là mang lại sự an lành cho con người. Người tu thiền ít nghĩ những điều không đáng nghĩ, tức là ít khổ, mà ít khổ là ít bệnh.

Ðến đây, chúng ta đi thẳng vào đề mục chính của sự tu thiền. Một vị Tổ của Thiền tông Việt Nam, đó là đức vua Trần Nhân Tông. Năm bốn mươi tuổi, Ngài lên núi Yên Tử lập chùa và ở đó tu một thời gian. Sau đó, Ngài xuống núi để giáo hóa. Khác với một số trường hợp chư Tăng, là Ngài đã thông hiểu giáo lý trước khi xuất gia để trở thành một vị tu sĩ. Vì vua cha Trần Thánh Tông là vị vua rất mộ đạo Phật, nên Ngài gởi Nhân Tông (con trai trưởng) cho Tuệ Trung Thượng Sĩ giáo hóa chỉ dạy. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ rất thâm thúy về Thiền tông, thấy suốt nghĩa lý của Thiền tông. Vì vậy Nhân Tông thờ Ngài theo đạo thầy trò.

Sau khi mãn thời gian học đạo, Ngài từ giã thầy về lại cung vua làm tròn trách nhiệm của một ông Hoàng. Trước khi từ giã thầy, Ngài hỏi về yếu chỉ tu thiền. Tuệ Trung Thượng Sĩ mới trả lời: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Nghĩa là xem ngược lại nơi mình là phận sự chính của người tu thiền.

Nghe câu này, vua Trần Nhân Tông lãnh hội được yếu chỉ, nên sau này đi tu Ngài cũng lấy câu ấy dạy Tăng Ni tu hành.
Khi đã dồn hết tâm lực để tìm ra cái chân thật sẵn có của mình, tức là đã thực hiện đúng tông chỉ thiền của đạo Phật. Vì vậy, là đệ tử Phật, chúng ta phải nương theo đức Phật, chư Tổ và các Thiền sư để không bị lầm lạc.

Tổ Ðạt Ma chín năm ngồi nhìn vách. Tổ Huệ Khả suốt đêm đứng trong tuyết để cầu pháp an tâm. Chúng ta thấy người xưa muốn thấu suốt được việc lớn phải là người nhiệt tình, thiện chí tối đa, chớ không thể lơi là mà được. Ðây là việc rất khó. Ví dụ, sáng chúng ăn cơm rồi đi làm chiều về, quí vị thấy cực nhưng mà dễ. Còn ngồi lại một mình, vừa đau chân vừa buồn ngủ; nên việc này thấy dễ mà khó. Trở lại mình là khó, phóng ra ngoài là dễ. Phải là người có thiện chí tối đa mới thực hiện được công việc này. Cũng vì thế mà Tổ Ðạt Ma đã thử thách đồ đệ của mình xem có phải là người đử sức đảm nhận việc ấy chăng. Sau khi thấy được ý chí dũng mãnh của Huệ Khả, Tổ Ðạt Ma mới bằng lòng truyền dạy, Tổ Huệ Khả bạch với Thầy rằng:

- Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy cho con phương pháp an tâm.
Tổ Ðạt Ma bảo: - Ðem tâm ra đây ta an cho.
Tổ Huệ Khả tìm tâm không được, liền thưa với Tổ Ðạt Ma:
- Bạch Hòa Thượng con tìm tâm không được.
Tổ Ðạt Ma bảo: - Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Ngay câu nói đó Tổ Huệ khả liền ngộ đạo.
Chúng ta nghe thật vô lý, tâm vốn không có tướng mạo làm sao đem ra?

Ngài Huệ Khả là người quyết tâm cầu đạo, hoàn toàn tin tưởng vị thầy nên đối với câu nói của Tổ Ðạt Ma, Ngài không dám xem thường. Nhờ thế mà Ngài ngộ đạo.

Từ đây chúng ta nhận ra Tu Thiền tức là tìm lại xem cái tâm lăng xăng đó nó ở nơi đâu, vì sao ta lại bất an. Tìm lại nó, thấy rõ ràng nó không thật. Thấy được nó không thật rồi thì tâm tự an. Còn nếu chúng ta tìm cách này đè xuống, tìm cách kia diệt đi; nhưng khi có cái bị đè thi lại có cái hay đè, tâm bị hai thứ đối đãi phủ che, làm sao thấy được cứu kính ! Thế nên mới nói tu thiền là trực chỉ, không có một phương tiện nào cả. Ðây là cái đặc biệt của Thiền tông. Ngài Ðức Sơn nói: "Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người" là vậy.

Chúng ta thấy rõ chủ trương của Tổ Ðạt Ma dạy cho Huệ Khả và chủ trương của Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy cho vua Trần Nhân Tông không khác, cùng một gốc "phản quan tự kỷ". Ngồi lặng im một nơi để nhìn lại tâm mình; cái gì sanh, cái gì diệt, thấy biết rõ ràng thì tự nó yên lặng. Khi nó đã lặng thì cái tâm Phật vốn có từ đời đời kiếp kiếp liền hiển hiện. Chỉ vì các thứ vọng tưởng lăng xăng lộn xộn che lấp nên chúng ta quên, không nhớ cái thật đó có sẵn nơi mình. Như mặt trăng trên trời bị mây che nên ta không thấy, đến khi mây tan thì mặt trăng hiện rõ ngay nơi đó chớ không phải từ đâu đến. Cũng vậy, khi phiền não lặng thì tâm an lành hiện tiền.

Trong lúc hướng dẫn tu thiền, chúng tôi tạm chia ra những giai đoạn như sau:
- Phương tiện đầu
- Phương tiện chủ yếu
- Chỉ cần "biết" thôi.


 
1. Phương tiện đầu:
Vì có nhiều Phật tử chưa biết tu thiền, đầu tiên nếu bảo họ ngồi yên lặng, quan sát tâm thì khó quá. Nhiều vị hỏi "Con ngồi thiền niệm Phật được không? ". Nếu tôi nói được tức là Thiền-Tịnh song tu. Nhưng thưa quí vị, thiền là phải dồn hết tâm lực nhận cho ra, thấy cho được cái chân thật không lầm lẫn. Như vậy nếu bận niệm Phật thì làm sao thấy được cái "vô niệm" ấy. Ðem cái này lắp cái khác thì có lợi ích gì? Thế nên trong giai đoạn ban đầu, chúng tôi dạy tọa thiền theo phương pháp "Quán sổ tức", tức là đếm hơi thở. Quí vị ngồi thiền hít vô thở ra và chăm chú đếm hơi thở của mình từ một đến mười, rồi bắt đầu đếm trở lại. Như vậy có phải chúng ta đang soi ngược lại minh không? Theo dõi hơi thở để quen dần với cách trở về với chính mình, không để tâm duyên ra ngoài và cũng không tập thói quen duyên theo phương tiện bằng những niệm khác, dù là niệm Phật. Mới nghe qua, thấy dường như là chuyện tầm thường nhưng thật ra lại là chuyện hết sức quan trọng.

Khi quí vị ngồi từ mười lăm phút đến nửa giờ, đếm không lộn một số nào, đó là bước tiến ban đầu. Tâm đã tạm ổn định, tiếp theo là ta bỏ đếm số mà chỉ cần theo dõi hơi thở vô ra đều đặn, sâu cạn dài ngắn, biết rõ ràng không tạp loạn. Ngày càng thuần thục thì tự nhiên ta có thói quen quan sát lại chính mình khi tọa thiền. Ðây là chặng thứ nhất.

2. Phương tiện chủ yếu:
Khi chúng ta quen nhìn vào trong rồi, từ đây quan sát thấy rõ những niệm thiện ác dấy khởi, chúng ta đều không theo. Không theo nó sẽ tự lặng. Trong mười lăm phút chúng ta thấy vài chục lần niệm khởi và niệm lặng, ta đều không theo. Ðây là một bước tiến bộ nữa. Mình đã bắt đầu có thể làm chủ được rồi.

Ví như có người nào đó tự nhận là bà con xin ở chung với mình. Chúng ta tin bừa rồi cho vô hộ khẩu. Ðến khi phát hiện ra họ không phải là bà con, mà là kẻ trộm tìm cách vào nhà để dò xét, lấy của cải trong nhà. Nhưng lúc ấy, mình khó có thể đuổi họ đi vì họ đã có giấy tờ chứng minh là người nhà của mình rồi. Còn giờ đây, có người đến xin vào nhà, chúng ta quan sát thấy không phải là bà con, nhất định không cho vô nhà. Nhờ thế, về sau không mất của, lại đỡ rắc rối vậy có khỏe không? Một bên vô ra không kiểm soát được nên sanh hậu quả buồn khổ mất mát; một bên kiểm soát được vô ra thì đương nhiên ít bị mất mát, cũng không bị phiền toái, bất an, dần dần được an ổn hoàn toàn, sống tự tại thoải mái.
Cũng vậy, lâu nay ta nghĩ tâm mình thật, thân mình thật nên niệm khởi, nghiệp dẫn triền miên, khiến ta phải chịu khổ sở điêu đứng từ đời này sang đời khác. Còn bây giờ, nó vừa dấy lên, ta điểm mặt nó, biết nó là vọng tưởng, không nhìn nhận, không theo nó thì không bị nó gạt dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử nữa. Ðây là chặng thứ hai.

3. Chỉ cần "biết" thôi:
Cái "biết"này thật là quan trọng. Nếu biết vọng tưởng do niệm khởi; thì cái vọng là cái bị biết, còn cái biết đó là chủ. Cái biết này là trí sáng suốt, nó hoàn toàn khác với cái lăng xang, lanh lợi của thế gian.

Ví dụ, tôi ngồi trong thất; khách đến tôi biết, khách đi tôi biết. Cái biết đó là cái biết của chủ, cái biết của an nhiên tự tại trước mọi đổi thay. Thấy, nghe đều biết rõ ràng mà hằng tự điều phục được tâm ý, tự tại, tự nhiên, không vướng mắc theo trần cảnh bên ngoài. Người tu thiền đã thuần thục rồi, khi vừa lên bồ đoàn liền tỉnh táo nhìn thấy rõ tâm mình. Tuy còn niệm vọng lăn tăn, nhưng họ vẫn vui vì biết mình nhận rõ được vọng tưởng, không lầm lẫn. Nhìn thấy vọng tưởng, đó là huệ, vọng tưởng liền lặng, đó là định. Ðịnh huệ song tu hay là định huệ đồng thời. Ðây chính là chủ trương của Lục Tổ Huệ Năng. Tinh thần Thiền tông là tinh thần định huệ đồng thời. Nghĩa là thấy vọng tưởng biết là niệm khởi, liền đó niệm lặng; tức là ngay nơi cái động là tịnh chớ không cần phải đi đâu xa.

Cái biết vọng tưởng này thật là quan trọng. Vì nếu chúng ta dùng phương tiện nào để tu thì khi đi, đứng, nằm, ngồi cũng phải xử dụng phương tiện đó. Còn cái biết vọng này không cần động, không cần tịnh. Cho nên tu mà không ai thấy mình tu. Ví dụ: Một công nhân viên vô sở chăm chỉ với công việc của mình, biết rõ mình đang làm gì, toàn tâm toàn ý, không để đầu óc nghĩ ngợi lung tung. Như vậy tu trong giờ làm việc cũng giống như tu trong giờ tọa thiền, không có gì trở ngại cả, mà kết quả mặt nào cũng tốt. Công việc tốt, sự tu hành cũng tốt.

Có một số người khi vừa mới tập tu, vì ít nhớ nghĩ nên hay quên, rồi hoảng sợ cho rằng tu thiền xem chừng không ổn, càng tu chắc càng ngu. Thật ra, có ngu nhưng ngu thứ lanh lợi ở thế gian chớ không ngu với trí tuệ và lòng nhân ái. Thường chúng ta tưởng ít lanh lợi là ngu, nhưng không phải như vậy. Chính nhờ bớt lanh lợi nên chúng ta mới bớt tạo nghiệp, mới được an nhiên thảnh thơi. Càng đi sâu trong việc tu, chúng ta càng ít biết những tạp nhạp bên ngoài, xem như mình ngây ngô. Nhưng đến một ngày nào đó, chúng ta bừng sáng, thấy được cái chân thật nơi mình nằm sẵn trong mỗi con người; chúng ta thấy rõ, biết rõ bản chất con người và biết luôn bản chất của vũ trụ. Thử hỏi người được như vậy là người ngu hay người trí.

Ðức Phật ngồi tu dưới cội Bồ đề, không học, không đọc kinh, mà khi được an định hoàn toàn, Ngài giác ngộ. Do giác ngộ, Ngài biết tất cả, nên những gì Ngài nói đều là sự thật. Ví dụ: Ngài nhìn chén nước thấy trong đó có vô số vi trùng; vì vậy Phật dạy chư Tỳ Kheo trước khi uống nước phải đọc bài kệ:

            Phật quán nhất bát thủy,
            Bát vạn tứ thiên trùng,
            Nhược bất trì thử chú,
            Như thực chúng sanh nhục.


Nghĩa là Phật thấy trong một chén nước có tám mươi bốn vạn vi trùng. Người uống nước nếu không nghĩ nhớ chú nguyện cho chúng thì như ăn thịt chúng sanh vậy. Ngài có kính hiển vi không? Không có mà thấy rõ ràng, trước đây hai ngàn năm trăm năm có ai tin không? Ðến bây giờ nhờ phương tiện khoa học, mọi người thấy điều Phật nói là đúng sự thật. Cũng như thế, Ngài nhìn trong hư không thấy vô số thế giới, Ngài nói hằng hà sa số thế giới, nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Ðộ. Ngày xưa khó có thể tin được, nhưng bây giờ nhân loại đã có cơ sở để tin điều đó. Trong nhà Phật nói thế giới có mười phương, ngày xưa rất ngạc nhiên. Nhưng khi biết trái đất này lơ lửng trong hư không thì phía nào cũng được xem là phương cả, chớ không chỉ có theo bề mặt mà nói bốn phương tám hướng. Chúng ta nghe câu "Bốn phương trờì mười phương Phật", câu nói rất tầm thường nhưng ý nghĩa vô cùng tế nhị mà người đời ít biết.

Nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu trong sách Phật hơn nữa thì sẽ thấy còn rất nhiều vấn đề Phật nói, mà ngày nay khoa học vẫn chưa tìm ra được. Vậy thì không phải người ngồi tu yên lặng chỉ tìm ra được mình và chỉ biết có bấy nhiêu đó thôi, mà còn biết tất cả vạn pháp trong vũ trụ. Cho nên, nói tu thiền là nói đến việc làm có ý nghĩa quan trọng, một phát minh vĩ đại chớ không phải tầm thường, tiêu cực như một số người thường nghĩ.

Vị Thiền Sư giam mình trong thiền thất có khác chi nhà bác học giam mình trong phòng thí nghiệm. Cả hai đều nghiên cứu để phát minh về con người và vũ trụ, nhưng hai cách hoàn toàn khác nhau với hai mục đích cũng khác nhau. Các nhà khoa học muốn dùng những thành tựu của khoa học để phục vụ cho cuộc sống con người tiện nghi hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn. Còn Thiền sư mang một ý nguyện sâu xa hơn, quan trọng hơn là giúp cho mình và mọi người tự hiểu lấy bản chất chân thật của chính mình, làm chủ được mình và tự giải thoát ra khỏi trầm luân sanh tử.

Quí Phật Tử ngày nay thường thích tu pháp gì vừa dễ vừa mau. Tu mà khó quá thì ngán. Cho nên chỉ cần đến chùa tụng kinh, niệm Phật là thấy đủ rồi. Như vậy thì làm sao đi đúng tinh thần của Phật dạy, là phải đi sâu, đi sát nguồn gốc của sự giác ngộ giải thoát? Nghĩa là phải làm sao thấy cho được con người thật của chính mình, biết được manh mối nào dẫn mình triền miên trong sanh tử, làm sao dứt được mầm sanh tử đó. Ðược như vậy mới gọi là người tu Phật chân chính.
Ban đầu quí Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng liên miên chớ có sợ sệt, cũng đừng buồn. Lục Tổ có nói: "Bất phạ niệm khởi, duy khủng giác tri". Tực là không sợ niệm dấy lên mà chỉ sợ giác chậm. Nó lên bao nhiêu cũng được, mình thấy hết thì không có gì ngại. Ðó là điều quan trọng. Chỉ cần giác biết rõ ràng niệm khởi là vọng không theo thì chúng tự lặng. Niệm có đến có đi nhưng cái biết vẫn thường hằng. Cứ như thế tu tập nhuần nhuyễn, dần dần tâm sẽ an định. Một mai chúng ta sạch hết vọng tuởng thì những thứ siêu việt hiển hiện. Ðó là cái phi thường vượt ra ngoài đối đãi động - tịnh, có - không của thế gian, mà người đời không sao hiểu nổi.

Tất cả chúng ta tu Phật, học Phật cần phải biết rõ và nắm vững trọng tâm của sự tu hành. Ngày nay có một số Tăng, Ni, Phật tử có chút ít công phu nghiên cứu cũng nhận ra nơi mình có cái thật. Nhưng nhận được rồi liền tưởng mình thành Phật, ai nói trái tai, trái ý liền nổi giận đùng đùng. Ðó là bệnh. Bởi vì trong khi tu, đôi khi chúng ta cũng nhận được cái chân thật ấy. Quả tình chúng ta có sáng, nhưng thói quen, tập khí lâu đời của mình chưa bỏ được, cần phải trải qua một thời gian dài tu tập cho thuần thục; khi nào tám gió thổi không động, chùng ấy mới có thể gọi là tự tại được. Vì vậy cổ đức thường có câu:

            Ðốn ngộ tuy đồng Phật,
            Ða sanh tập khí thâm,
            Phong đình ba thượng dũng,
            Lý hiện niệm du xâm.


Nghĩa là tuy chúng ta ngộ mình có ông Phật rồi, ông Phật của mình cũng giống như Phật, nhưng nhiều đời tập khí còn quen nên gió lặng rồi, mà nhìn lại dưới biển sóng vẫn còn lăn tăn, phải lâu mới hết. Lý đạo chúng ta đã thấy, nhưng ý niệm lăng xăng vẫn còn, nên phải tu thật kỹ thật lâu.

Ngài Trần Tôn Túc nói: "Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ". Nghĩa là việc lớn chưa sáng thì cố gắng tu, không màng tất cả những thứ bên ngoài, giống như người đưa đám ma mẹ mình, ai làm gì chung quanh mình không chú ý, chỉ một bề nhớ thương mẹ. Nhưng khi việc lớn đã sáng vẫn như đưa ma mẹ. Vì thấy được việc lớn rồi mà tập khí còn nhiều, cũng phải cố gắng dẹp trừ, đâu có rảnh rỗi mà để ý ngó đây ngó kia. Thế nên người tu phải rất cẩn thận, dè dặt, chớ không thể đơn sơ được.

Nếu quí Phật tử tu như thế, tôi tin rằng quí vị sẽ được an ổn nhiều, xã hội chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn. Bằng buông trôi thì bản thân chúng ta ngày càng buông lung, sa đọa và xã hội ngày càng xấu đi. Còn nói về kết quả dành cho người tu lâu dài niêm mật thì tôi có thể mượn bài kệ số chín (Phản bổn hoàn nguyên - trở về nguồn cội) trong Thập mục ngưu đồ để quí vị nhận rõ kết quả việc tu thiền:

            Phản bổn hoàn nguyên dĩ phí công
            Tranh như trực hạ nhược manh lung,
            Am trung bất kiến am tiền vật,
            Thủy tự mang mang họa tự hồng.
Dịch:
            Phản bổn hoàn nguyên đã phí công,
            Ðâu bằng thấy đó tợ mù câm.
            Trong am chẳng thấy ngoài vật khác,
            Nước tự mênh mông, hoa tự hồng.


Chúng ta bỏ ngọn trở về nguồn gốc tức là phản bổn hoàn nguyên, tuy nói gì thì nói, thật ra cũng phí công. Chỉ cần đối với thanh sắc, thấy như mù, nghe như điếc thì thấy nghe đủ hết nhưng không tham không dính. Trong am thấy việc trong am chớ không thấy việc khác ở bên ngoài. Bên ngoài kia nước mênh mông, hoa đỏ rực; thì nước cứ nước, hoa cứ hoa, không có gì quyến rũ xao xuyến lòng ta. Ở trong thế gian mà vẫn không bị thế gian lôi kéo trói buộc. Ðó là kết quả rốt ráo của tu thiền.


Tác giả bài viết: HT. Thích Thanh Từ