Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

SCALDAL---- em đào, em thảo, em huyền

SCALDAL----
Em đào, em Thảo em Huyền
Em Vân, em Thúy, em Duyên, em Hà
Em Trâm, em Tuyết, em Hoa
Em Yến, em Thủy, em Nga, em Tiền
Em Trân, em Trúc, em Uyên
Em Sương, em Mỹ, em Hiền em Chi
Em Thư, em Nguyệt, em Thy
Em Linh, em Diễm, em My, em Hường
Em Ngọc, em Diệu, em Thương
Em Phượng, em Nguyễn, em Nương em Lài
Em Quỳnh, em Cúc em Mai
Em Lan, em Liễu, em Hai em Lành
Các em, anh chọn phải đành
Rút cuộc tình cảm anh dành cho ai
Ai thì cũng đẹp như ai
Chẳng lẽ anh lại, 1 tay vài nàng

Sự Tiến Hóa Của Linh Hồn

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Những nguyên tắc khác người của kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa

Những nguyên tắc khác người của kiến trúc sư Võ Trọng Nghĩa

ANTĐ - Võ Trọng Nghĩa là cái tên đã nổi đình nổi đám trong giới kiến trúc. Những công trình Gió nước và tre, những công trình cây mọc từ bê tông của Võ Trọng Nghĩa đã nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Các giải thưởng kiến trúc quốc tế, Võ Trọng Nghĩa đều tay nhận hằng năm. Còn một nghĩa khác của sự “nổi đình nổi đám” là những tác phẩm của Võ Trọng Nghĩa luôn là đề tài tranh luận với nhiều ý kiến khen chê, phản bác thậm chí dậy sóng không chỉ trong giới kiến trúc mà cả dân ngoại đạo. Võ Trọng Nghĩa bình thản đón nhận tất cả những điều đó, kể cả thành công lẫn thất bại hay những ý kiến phản bác. Giải thưởng ư, lúc nào mình cũng cố gắng thì không có kết quả này cũng có kết quả khác. Hầu như tôi không đi nhận giải thưởng bao giờ. Còn phản bác ư. Thoải mái! Tôi chấp nhận mọi giá trị…
Tôi là dân ngoại đạo về kiến trúc, nhưng cũng rất ấn tượng với công trình xanh của Võ Trọng Nghĩa. Tôi để ý đến cái tên này và muốn thực hiện một cuộc trò chuyện với nhân vật này. Sáng 10 Tết, đến Công ty TNHH Võ Trọng Nghĩa nằm trên đường Láng Hạ, Hà Nội. Tôi hơi ngạc nhiên, trong phòng chật kín người, mọi cabin đều kín chỗ, phần lớn các KTS trẻ, có cả người nước ngoài ai cũng mải mê với công việc của mình. Căn phòng gọn gàng ngăn nắp, có những kệ gỗ màu trắng đặt các mô hình bằng tre. Nhân viên làm việc im phăng phắc, thấp thoáng chỉ nghe thấy giọng Quảng Bình của Nghĩa bàn việc với khách hàng, và tiếng bàn phím lách cách cùng những cái nhấp chuột tí tách. Nhìn cái cung cách làm việc ấy tôi đoán được cơ chế làm việc ở đây và tính cách quyết liệt của người lãnh đạo.



Bí quyết nhà lãnh đạo trẻ

- Mới ra Tết mà Công ty Võ Trọng Nghĩa đã bận túi bụi thế này sao?

- Ngộp thở. Công ty đi làm từ mùng 7, không có ai xin nghỉ.

- Nhìn họ làm việc say mê quá, không biết ngồi nói chuyện thế này có ảnh hưởng gì không?

- Không sao. Nếu chị đến đây vào 11, 12 h đêm vẫn có người làm việc mà không thấy ai kêu ca phàn nàn gì. Đấy đã trở thành niềm đam mê  của họ rồi.

- Chắc là người lãnh đạo phải “hắc” lắm?

- Không, tôi để tự họ lựa chọn cách làm việc của mình. Người tài xế ở Việt Nam hay có thói quen bấm còi và nói rằng không bấm còi không chạy được. Tôi nói một là không bấm còi hai là nghỉ việc, ông chọn con đường nào. Hay chuyện anh lái xe phải đeo găng tay trắng, nhưng không đeo, tôi vui vẻ cho anh nghỉ và tuyển một người khác, chắc chắn họ sẽ đeo găng tay trắng. Ngay ở công ty này nhân viên đi xe ngoài đường cũng không được còi làm ô nhiễm âm thanh, trừ trường hợp có khả năng người ta lao ra.

- Làm sao để anh kiểm soát nhân viên của mình có thực hiện hay không?

- Phản hồi. Những chuyện đơn giản như thế nhưng mọi người cứ bỏ qua. Một người có làm việc tốt hay không phải bắt đầu từ ý thức chấp hành kỷ luật. Nếu không thì đừng bao giờ hy vọng. Đừng bao giờ.

-  Công ty anh còn nguyên tắc nào khác nữa không?

- Nhân viên công ty không được phép gọi vào số điện thoại riêng của tôi.

- Thế thì bất tiện, nhỡ có việc gì cần xin ý kiến của anh?

- Gọi làm gì? Phải tự mình nghĩ ra cách giải quyết. Và có hệ thống bao nhiêu người có thể giải quyết công việc thay tôi.

- Và tiếp nữa? Còn điều gì không được phép nữa?

- Ở công ty không được phép nói nhược điểm của người khác, trừ khi điều đó làm ảnh hưởng công việc. Tôi không đánh giá cao, thậm chí là xem thường những người hay nói về nhược điểm của người khác khi không có mặt của họ.

- Quá hay. Tôi thích nguyên tắc này. Buôn chuyện, mách lẻo về người khác thật kinh khủng. Tuyển vào công ty anh có khó không?

- Cả một chồng hồ sơ cao, chỉ có vài người thôi à. Chỉ chọn người có năng lực nhiệt huyết chứ không chọn người đến đây để ngồi chơi xơi nước. Tôi nói với họ là bây giờ lỡ chúng ta đi ra thế giới rồi, bây giờ phải đi đá Worl Cup, tôi cần những người có lòng nhiệt tình, còn những thứ khác thiếu đâu bù đó. Và họ chấp nhận. Ở công ty này rất ít người xin nghỉ. Họ có thể nghỉ việc vì những lý do riêng. Ok. Tắc đường ư, chỉ một lần thôi, chứ không phải cả tuần đâu nhé. Đừng bịa ra các lý do, rồi đến lúc không còn cơ hội để mà bịa ra các lý do. Còn nếu đi làm về sớm ư, trước khi về hãy qua bàn chào tôi đã.

- Khắt khe thế mà vẫn có người tuyển vào Công ty Võ Trọng Nghĩa?

- Giống như cục nam châm, hút cục sắt, rồi lại hút cục sắt khác làm cho cục nam châm ấy to dần lên. Tôi trọng người tài. Và tạo cơ chế để họ làm việc yên ổn. Bây giờ Công ty đã có 60 kiến trúc sư, trong đó có 15 người nước ngoài đang làm việc cho tôi. Việc vì sao họ tìm đến một công ty của Việt Nam để làm việc là câu trả lời.

- Bí quyết lãnh đạo của anh là gì?

Huy động nhiệt huyết của mọi người. Truyền cảm hứng đến mọi người. Tất nhiên là những người muốn làm việc. Tôi truyền cảm hứng đến cả những người thợ công trình.



Tuyệt nhiên không xem ti vi, không đi quan hệ

- Người ta hay hình dung kiến trúc sư sẽ là người lộn xộn, phủi phủi một tý, chất nghệ một tý. Có vẻ như không đúng với anh?

- Hoàn toàn không đúng trường hợp nào.

- Anh có phải là một người quan hệ rộng?

- Cũng không đúng. Tôi chỉ ngồi làm việc ở cái bàn này thôi, không đi quan hệ ở đâu hết. Ai có việc gì, mời đến đây.  Sau khi ở Nhật về, tôi cũng có quan hệ rất nhiều trong giới kiến trúc. Về Việt Nam tôi thấy nhiều công ty kiến trúc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ. Nếu dựa vào mối quan hệ có thể công ty mình sẽ phát triển rất tốt ở Việt Nam nhưng không bao giờ có năng lực cạnh tranh trên thế giới vì đã mất sự trong sáng. Muốn xác định là làm trên thế giới thì đầu tiên phải đoạn tuyệt với cái tham trước mắt. Đặc biệt ngành kiến trúc lại tuyệt đối cần sự trong sáng.

- Vì nó giống như một ngành nghệ thuật?

- Đúng vậy, giống như sáng tác nhạc ấy, mấy ai đã sáng tác nhạc được như Trịnh Công Sơn. Khó. Nếu ông sáng tác mà tính toán, đặt hàng thì không thể có những rung động như những ca khúc được cất lên từ chính cảm xúc và sự trong sáng của tác giả. Không thể nào. Điều đó là không thể nào.

- Một ngày làm việc của anh bắt đầu thế nào?

- Sáng dậy mở mắt ra ngồi thiền, ăn sáng, 8 h đến công ty, 8 h tối về nhà, thiền trước khi đi ngủ. Hết. Tuyệt đối không xem ti vi.

- Lý do?

- Tôi có đủ thông tin rồi. Đọc báo là đủ. Mà thời gian đọc báo cũng hạn chế luôn. Chỉ dành 20 phút để đọc báo thôi.

- Thật khác người! Nhiều người không thể bỏ thói quen xem ti vi một ngày?

- Đó là sự lệ thuộc kinh khủng khiếp vào mọi thứ. Sự lệ thuộc đã giết chết hết sáng tạo.

- Thiền mang lại cho anh điều gì?

- Đó là sức chịu đựng để đón nhận mọi thứ. Thành công hay thất bại đều đón nhận một cách nhẹ nhàng. Khi làm thì tập trung hết mình, làm cho đã còn được không được tùy duyên. Thiền giúp tôi cân bằng cảm xúc khá tốt.

- Anh đã được nhận nhiều giải thưởng kiến trúc quốc tế, nó có phải là động lực cho những công trình tiếp theo?

- Tôi cân bằng ngay cảm xúc vì thành công là nỗ lực không mệt mỏi của tôi và công ty. Vui buồn đến và đi là chuyện bình thường của cuộc sống. Và hầu như tôi không đi nhận giải thưởng bao giờ? Vì cảm giác về sự thành công không cần thiết cho sự nỗ lực tiếp theo.

 Học thất bại, không phản ứng với những lời khó nghe

- Anh học kiến trúc tại Nhật và đã trở về Việt Nam, tại sao anh lại trở về mà không tiếp tục học thêm?

- Đang làm tiến sĩ ở bên Nhật, ông thầy của tôi bảo: Tôi đào tạo ông để ông làm kiến trúc sư giỏi chứ không phải để nghiên cứu cái gì khác nữa. Tại thời điểm đó, các cuộc thi kiến trúc ở bên Nhật tôi cũng đã có giải và tốt nghiệp Đại học Tokyo của Nhật tôi đỗ thủ khoa. Rồi làm luận án tiến sĩ tôi đạt giải thưởng nghiên cứu xuất sắc nhất của Đại học Tokyo. Thầy nói, đi về học thất bại đi còn hơn là cứ thành công mãi. Tôi chấp nhận lời của thầy, và đó cũng là ý nguyện của tôi, tôi muốn trở về Việt Nam để làm việc tại Việt Nam.

- Và anh đã học được thất bại nào?

- Ồ, thường xuyên luôn. Thất bại điên đảo luôn. 5 năm đầu không có việc gì để làm. Nhưng tôi vẫn cứ ngồi một chỗ thiết kế thôi và kiên quyết không đi quan hệ.

- Thất bại đầu tiên sau khi trở về?

- Chuyện này tôi không thể nói ra để nhiều người biết được.

- Công trình được giải thưởng kiến trúc của anh đã có nhiều bình luận, anh có nghe những bình luận đó chưa, và có chấp nhận những lời khó nghe?

- Chị thấy không, bàn làm việc của tôi còn không có máy tính, tôi cũng không quan tâm quá nhiều đến việc người ta nói gì. Đức chúa Giê su mà còn có lúc bị người ta mang ra đóng đinh mà.

- Nhưng đôi khi mình cũng phải nghe những ý kiến trái chiều chứ.

- Người mình hay nhiều thành kiến và định kiến áp đặt lên những sáng tạo của người khác.

- Vì cái mới thường là thiểu số.

- Và số đông không phải bao giờ cũng đúng.

- Cảm xúc của anh khi thất bại?

- Cũng bình thường?

-  Khi công trình của mình bị chê?

 - Thoải mái, không phản ứng.

- Nhưng đó có phải là phản ứng tiêu cực?

- Không hề, mà hoàn toàn trong sáng. Tôi chấp nhận mọi giá trị, mọi quan điểm. Đối với tất cả mọi nghề bí quyết thành công là bí quyết hạnh phúc. Còn chuyện người này thích chuyện này, người khác thích chuyện khác là chuyện của họ đi.

- Còn sau những thất bại ấy là?

- Làm không hết việc.



Chỉ cần 3 năm Hà Nội sẽ trở thành Thủ đô đẹp trên thế giới

- Với con mắt của Kiến trúc sư, anh thấy kiến trúc Hà Nội thế nào?

Tôi chấp nhận nó như nó đang là. Tôi không muốn nói quá nhiều về nhược điểm, nỗ lực làm được gì tốt hơn cho kiến trúc Hà Nội thì tôi vẫn tiếp tục làm. Tuy nhiên tôi đã đi nhiều nước trên thế giới, và thấy Thủ đô Hà Nội tuy có quy mô lớn nhưng vẫn có kiến trúc và quy hoạch phải nói là khiêm tốn, kể cả so với Thủ đô của Lào hay Campuchia.

- Nhưng mà làm Thủ đô đẹp lên, hay xấu đi có một phần trách nhiệm của các kiến trúc sư đấy. Anh có ý tưởng nào để Hà Nội của chúng ta đẹp hơn lên?

- Tôi đã nói rất nhiều lần, thậm chí viết thư cho thành phố đến mỏi cả tay chỉ để phấn đấu làm cái mái nhà xanh mà không hiểu sao vẫn chưa được. Ai sửa nhà bắt làm lại mái xanh, ai xin phép làm lại nhà phải có quy chế để họ làm những cái mái nhà xanh, mặt tiền xanh. Chẳng cần phải hình dung bạn chỉ cần nhìn Hà Nội từ trên cao, nếu những cái mái tôn đỏ nóng bức kia được thay bằng những mái nhà chống nóng, chống thấm, chống mưa và trồng cây thì sẽ như thế nào. Chỉ cần thay đổi một chút như vậy thôi, Hà Nội sẽ đẹp lên rất nhiều.

 - Anh viết thư cho thành phố bao nhiêu lần rồi?

- Viết nhiều.

- Vậy họ phản hồi như thế nào?

- Chỉ có sự im lặng.

- Thế sao anh vẫn viết?

- Vì như chị nói đó là trách nhiệm của kiến trúc sư. Tôi vẫn thấy những người dân mang các thùng hộp xốp lên nóc nhà trồng trông tội lắm. Nếu Hà Nội làm được điều đó, chỉ sau 3 năm thành phố của chúng ta trông sẽ rất thích mắt và có thể trở thành Thủ đô đẹp trên thế giới. Vấn đề là có muốn làm hay không thôi.

- Nhưng chi phí cho mái nhà xanh chắc chắn sẽ tốn kém hơn nhiều so với mái tôn?

 - Không, không hề tốn kém, mà chỉ tương đương như mái tôn?

- Anh ấn tượng với công trình kiến trúc nào của Hà Nội?

- Có một số anh em làm nhà nhỏ có ý tưởng rất tốt, nhưng tiếc là còn quá ít và quá nhỏ.

- Thế còn những công trình công cộng, công trình lớn hiện đại của Thủ đô?

- Công trình công cộng… công trình công cộng…. công trình nào tôi không nhớ ra.

- Ở nhiều các tỉnh, thành, thậm chí ở nước ngoài, đã có những công trình lớn của KTS Võ Trọng Nghĩa nhưng ở Hà Nội, hình như chưa có?

- Cũng có một vài nhà nhỏ. Tôi không vội đâu, không có gì vội. Điều gì đến sẽ đến. Đến ngày đó, đến giờ đó, ắt  sẽ đến. Có duyên thì cũng rất là dễ và rất là nhanh. Có cái tưởng chừng rất là chậm nhưng lại rất là nhanh và ngược lại. Đấy cứ bảo Hà Nội phát triển ghê gớm lắm, nhanh và rộng lắm, nhiều nhà cao lắm. Cứ tưởng thế là phát triển nhanh. Chưa chắc, thực ra tốc độ phá là siêu tốc. Thà cứ trên một nền móng chả có gì để làm từ đầu còn dễ hơn là để đến lúc Hà Nội lem nhem sửa còn khó hơn nhiều. Lòng kiên nhẫn bao giờ cũng có sức mạnh riêng của nó. Tôi cứ làm việc với niềm tin như thế.

- Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này, chúc anh năm mới với những công trình xanh mới. Đinh Hương Bình (Thực hiện

tất cả đều do… chồng của họ.

Bà mẹ sinh năm 69 với con gái sinh năm 96 tâm sự với nhau.
— Theo con, người phụ nữ lý tưởng là như thế nào?
— Mẫu phụ nữ lý tưởng là có chồng và người tình.
— Hồi mẹ bằng tuổi con, người ta bảo đó là phụ nữ chơi bời.
— À, bây giờ bọn bạn con coi người phụ nữ chơi bời là phải có chồng và nhiều người tình.
— Hồi mẹ bằng tuổi con, người ta coi người phụ nữ đã có chồng mà vẫn có nhiều người tình là loại phụ nữ bỏ đi.
— Phụ nữ tuổi bọn con lại quan niệm: người phụ nữ bỏ đi là người phụ nữ không ông chồng nào thèm lấy và cũng không có nổi người tình.
— Hồi mẹ bằng tuổi con, người phụ nữ đó bị gọi là người phụ nữ cô đơn.
— Bây giờ, đối với bọn con người phụ nữ cô đơn là người phụ nữ chỉ có mỗi chồng.
Cuối cùng, hai mẹ con đều tìm thấy một điểm chung, phụ nữ cô đơn hay có nhiều đàn ông, tất cả đều do… chồng của họ.

(st)

“Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.



“Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

Học người xưa cách đối diện với thị phi trong cuộc sống




Học người xưa cách đối diện với thị phi trong cuộc sống

Thật khó để tìm ra cách ứng xử khi phải đối mặt với những thị phi trong cuộc sống. Nhưng trong mọi trường hợp, im lặng luôn là giải pháp tối ưu, bởi cuộc sống còn nhiều thứ để quan tâm hơn là mang trong mình sự ấm ức và bực bội chỉ vì người khác không hiểu đúng về mình.

Dưới đây là 2 câu chuyện nói về cách mà người thời xưa đối diện với những thị phi.
Câu chuyện thứ nhất:
Trong một buổi nhàn hạ, vua Đường Thái Tông hỏi chuyện vị quan cận thần là Hứa Kính Tôn rằng:
– Trẫm thấy khanh phẩm cách cũng không phải là phường sơ bạc. Sao lại có nhiều tiếng thị phi chê ghét như thế?
Hứa Kính Tôn trả lời:
– Tâu bệ hạ. Mưa mùa Xuân tầm tã như dầu, người nông phu mừng cho ruộng đất được thấm nhuần, kẻ bộ hành lại ghét vì đường đi trơn trợt. Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư không thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn hạ thần đâu phải một người vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.
Cho nên ngu thần trộm nghĩ, đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Vua tin nghe lời thị phi thì quan thần bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không thấy máu.

Câu chuyện thứ hai:


Một lần, Phật đi giáo hóa ở vùng có nhiều người tu theo Bà La Môn giáo. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật mà mắng chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau không tiếc lời rủa xả. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
– Ngài có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này tín đồ Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.


Trong kinh Phật viết rằng, khi người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rời xuống ngay mặt người phun. Có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Thế nên từ nay về sau nếu có nghe thấy ai đó nói lời không tốt về mình, chớ có thọ nhận thì sẽ được an vui.

Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành nhưng vết thương gây ra bởi lời nói thì chẳng biết ngày nào mới lành lại được.
Vì vậy hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng trách móc người khác chỉ vì lỗi lầm của họ bởi: “Every saint has a past, every sinner has a future”, nghĩa là “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

Cái giá của sự bất công bằng

Cái giá của sự bất công bằng
(Về giai cấp “siêu giàu” mới nổi)
 
Trần Hữu Dũng
 
Một trong những sự kiện gây nhiều phản ứng trên thế giới trong vài năm gần đây (nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008) là sự phân hoá thu nhập ngày càng rộng ra ở một số quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, Nga, Brazil, Ấn Độ, và ngay cả Mỹ.  Thiểu số giàu có thì càng giàu hơn cực nhanh, đến độ “khủng”, còn đa số trung lưu và nghèo thì hoặc là chững lại, hoặc là nghèo hơn.  Ở Mỹ chẳng hạn, trong hai năm 2009-2010, khi mà thu nhập bình quân của 99% gia đình Mỹ chỉ tăng lên 0,9% thì thu nhập của 1% giàu nhất tăng lên 11,6%!  Một điều đáng lưu ý nữa là trong năm quốc gia có nhiều tỷ phú (đô la) nhất thế giới (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ) thì hai nước vẫn còn tự xưng là “xã hội chủ nghĩa”, và hai nước vẫn còn được xem là đang phát triển (Trung Quốc, Ấn Độ)
. 
Sự gia tăng bất công bằng thu nhập này đã gây ra nhiều làn sóng công phẫn ở các quốc gia liên hệ, không những từ thành phần xã hội bị “bỏ lại phía sau”, như phong trào “chiếm Wall Street” ở Mỹ năm 2011, và nhiều hội đoàn tiến bộ khác, mà còn được sự chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng (ví dụ như nhà kinh tế Joseph Stiglitz,[1] nhà báo Timothy Noah,[2] Chrystia Freeland[3]...). Nhiều bình luận gia (ví dụ như Jonathan Chait) cho rằng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua có biểu hiện của một “chiến tranh giai cấp” trong đó giai cấp trung lưu và nghèo của Mỹ mà đại diện là Obama đã đánh bại giai cấp cực giàu của Mỹ mà Romney là đại diện.

Tại sao có những người “siêu giàu”?

Chủ đích bài này không là những người đã cực giàu từ lâu (như các vua chúa ở các vương quốc dầu hoả Á Rập, hay những lãnh tụ độc tài ở một số quốc gia). Ngoài ra, cũng phải nhìn nhận rằng nguồn gốc của những người siêu giàu mới nổi ở mỗi nước một khác.[4]  Tuy nhiên, nói chung, vài lý do chính (mà độ chính xác sẽ được thẩm định) của sự xuất hiện những người “siêu giàu” thường được viện dẫn là như sau:

Ở một thái cực, một số (tương đối rất ít) trở thành siêu giàu vì tài năng (kể cả tài tổ chức), sáng kiến xuất chúng (có thể thêm chút may mắn) của họ. Đây là cách giải thích của kinh tế học hàn lâm chính thống phương Tây. Nói đến những người này thì ta nghĩ ngay đến những nhân vật nổi tiếng như Bill Gates, Steve Jobs, Mark Zuckerberg...  Ở thái cực đối nghịch là những người siêu giàu nhờ những hoạt động bất hợp pháp (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu..)

Song nhìn kỹ thì cách phân loại trắng đen như trên là chưa đủ ngọn ngành.  Như Stiglitz cho thấy, tài sản kếch xù của Bill Gates, chẳng hạn, không phải chỉ nhờ vào tài năng (dù quả là xuất chúng) của ông ta nhưng phần lớn là nhờ vào vị trí độc quyền (hoặc hầu như độc quyền) của công ty Microsoft sau khi ông thành lập nó.  Chính sự độc quyền này đã đưa Bill Gates từ hạng cực giàu lên hàng cực siêu giàu.  Công ty Apple của Steve Jobs cũng thế.  Mỗi năm những công ty này bỏ ra hàng tỷ đô la trong các vụ kiện tụng để giữ độc quyền cho một sản phẩm nào đó (kể cả bằng sáng chế) của họ. Tất nhiên, những hoạt động này là hoàn toàn hợp pháp, song chúng chứng tỏ họ đã nhân tài sản của họ lên hàng trăm, hàng nghìn lần bằng cách lợi dụng, khai thác (những khe hở) thể chế và luật pháp, thậm chí uốn nắn thể chế và pháp luật (qua việc “lobby”) theo hướng có lợi cho họ.

Mặt khác, khách quan mà nói, cũng phải công nhận rằng những người siêu giàu nhờ tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu, cũng có một cái tài nào đó, dù cái “tài” ấy chỉ là những mánh khoé luồn lách pháp luật, mua chuộc quan chức, lập vây cánh, khuynh đảo thị trường.  Một điều nữa là dù tài sản này có nguồn gốc bất chính, những người (tham nhũng, cướp đoạt, đầu cơ, buôn lậu...) này (hoặc gia đình họ) đã “rửa” tài sản ấy qua những hoạt động kinh doanh hợp pháp (nhất là bất động sản, ngân hàng). Nói khác đi, nhìn thoáng qua tài sản của nhiều người “siêu giàu” hiện nay thì có thể cho rằng nó hợp pháp, nhưng nếu truy ngược về quá khứ thì nguồn gốc của nó là phi pháp.  Tài sản đã là khá to lớn từ những hoạt động rõ ràng là phi pháp đã được nhân ra hàng trăm, hàng nghìn lần qua những hoạt động hợp pháp, biến họ từ những người giàu phi pháp thành những người siêu giàu hợp pháp...  Đi sâu thêm một bước, thử xem cách thức mà những người này “nhân” ra những tài sản ấy là ra sao? Đại đa số là nương nhờ vào những quan hệ cá nhân, những lỗ hổng trong luật pháp.  Đó là không nói đến việc chính họ có thể chủ động “lobby” để nhà nước ra những luật lệ có lợi cho họ. Như Stiglitz nhận xét, dù ngoài mặt thì những thế lực kinh tế đã tạo nên sự bất công bằng thu nhập, nhưng chính chính sách của nhà nước đã tạo nên các thế lực kinh tế ấy.  Phần lớn sự bất công bằng hiện nay là hậu quả của những gì mà nhà nước đã làm, và cũng là hậu quả của nhiều việc mà nhà nước không làm.

Một nguồn gốc nữa của sự siêu giàu là do tích cực khai thác sự thiếu kém thông tin của đa số những người khác.  Chẳng hạn như giới ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản ở Mỹ đã trở nên cực giàu nhờ “nghĩ ra” những công cụ tài chính, bảo hiểm, những loại chứng khoán vô cùng phức tạp, không ai hiểu nỗi.[5]

Cũng nên để ý rằng các nguồn gốc khác nhau của sự “siêu giàu” này có “liên hệ hữu cơ” với nhau, đặc biệt là với tham nhũng: trong nhiều trường hợp, tham nhũng cho một cái “vốn” để những người giàu trở thành cực giàu (một cách hợp pháp). Và chính những người cực giàu này khuyến khích, mớm đút, tạo cơ hội tham nhũng ở những người khác.

Gần đây ở Việt Nam hai ý niệm “tham nhũng” và “nhóm lợi ích” thường được ghép chung.  Điều này không hoàn toàn đúng.  Theo nguyên ngữ thì “nhóm lơi ích” là một tập họp của những người có cùng quyền lợi kính tế, hợp lực với nhau để bảo vệ, tranh đấu cho quyền lợi ấy.  Đó là một hiện tượng đương nhiên, tự nó không có gì là xấu (chẳng hạn, xét cho cùng, công đoàn để bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cũng là một nhóm lợi ích chứ gì?).  Song khi các nhóm lợi ích thông đồng, cấu kết với tham nhũng  ̶  trong đó tham nhũng dựa vào đòn bẫy của nhóm lợi ích để tác động đến nền kinh tế, đến xã hội, và vâng, đến thể chế chính trị nữa.. .̶  thì sự nguy hại của tham nhũng được nhân lên nhiều lần.  Không những thế, khi tham nhũng có được một nhóm lợi ích làm hậu thuẫn thì dù vài cá nhân tham nhũng có sa vào vòng lao lý, nhóm lợi ích đàng sau những người ấy vẫn còn đó, tác hại của nó vẫn tiếp tục.

Kinh tế thị trường là một trò chơi cực kỳ phức tạp và những người thắng cuộc chơi ấy hẵn là khôn lanh ít nhiều hơn người khác.  Song những người thắng cuộc cũng thường có những bản chất không đáng ngưỡng mộ: khả năng luồn lách pháp luật, hoặc uốn nắn pháp luật theo cách có lợi cho họ, sự sẵn sàng lợi dụng kẻ khác – ngay cả những người nghèo; và chơi những trò “bẩn”, nếu cần.

Ảnh hưởng kinh tế của sự cực giàu

Cho đến gần đây, khi bàn về vấn đề chênh lệch thu nhập, giới kinh tế chính thống thường chỉ nói đến ảnh hưởng của nó đến tốc độ tăng trưởng vĩ mô. Những người theo phái thị trường tự do (hay “tân phóng khoáng” – neoliberalism) thì cho rằng bất công bằng thu nhập, dù tự nó không phải là tốt, là đáng cổ vũ, cũng là một tiền đề khó tránh của một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh: những nguời giàu sẽ có xu hướng đầu tư nhiều hơn...  Nói cách khác, dù tầng lớp cực giàu có tích tụ tài sản của họ cách nào đi nữa (miễn là hợp pháp) thì họ cũng có ích cho xã hội vì nhờ họ mới có đầu tư, tạo công ăn việc làm cho lao động, đầu tàu cho sự tăng trưởng của cả nước. Chẳng những mức độ tài sản của họ là có ích cho xã hội, sự chênh lệch thu nhập cũng là cần thiết để phát triển bởi nó tạo động lực cho lao động (cả tay chân lẫn trí tuệ).  “Cào bằng” thu nhập thì còn đâu những khuyến dụ (incentive) để nỗ lực làm việc?  Nói cách khác, theo những người này, có sự đánh đổi không thể tránh giữa “hiệu quả kinh tế” và “công bằng thu nhập”.

Có ba cách phản biện quan điểm này.

Một là, quan điểm ấy dựa trên giả định là nền kinh tế có sự cạnh tranh hoàn hảo: ngay khoa kinh tế học chính thống cũng đã chứng minh từ lâu rằng chỉ trong một nền kinh tế như thế thì lợi ích cá nhân mới trùng hợp với lợi ích cộng đồng (nghĩa là, người thu được lợi ích cá nhân cũng đem lại lợi ích cho tập thể).  Trên thực tế, không nền kinh tế nào có một sự “cạnh tranh hoàn toàn” như thế: những sự méo mó (như độc quyền, chẳng hạn) sẽ khiến lợi ích cá nhân lớn hơn lợi ích tập thể, và những người theo đuổi lợi ích cá nhân không hẵn sẽ có ích cho tập thể.  Nói rộng ra, trong một nền kinh tế bị “méo mó” vì những “hoạt động tìm lợi nhuận trên bình thường” (rent seeking activity) thì những người được hưởng những khoản tư lợi khổng lồ không nhất thíết là những người có đóng góp lợi ích tương ứng cho tập thể.  

Hai là, nhiều nhà tâm lý học, nhà khoa học xã hội (và thậm chí một số nhà kinh tế học) đã điều tra cặn kẽ để tìm xem cái gì là động lực lao động của con người, và họ khám phá rằng, ít nhất là trong nhiều trường hợp, giới kinh tế gia đã lầm khi cho rằng thu nhập là động cơ duy nhất. Đa số chúng ta thường làm việc hăng say hơn khi được thúc đẩy bởi những động lực nội tại (chẳng hạn như sự mãn nguyện khi làm một việc gì đó một cách hoàn hảo) hơn là bởi những phần thưởng đến từ bên ngoài (như lương tiền). Lấy một ví dụ, trong hai thế kỷ vừa qua, hầu hết các nhà khoa học góp phần nâng cao đời sống của nhân loại không phải vì họ theo đuổi tiền tài. Đó là điều may mắn cho chúng ta, bởi nếu những người xuất chúng ấy theo đuổi tiền tài thì họ đã trở thành chủ ngân hàng, kinh doanh bất động sản, mà không là nhà khoa học. Chính sự say mê tìm tòi chân lý, niềm vui của hoạt động trí tuệ, hạnh phúc tuyệt vời của khám phá, phát minh – và, vâng, sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp  ̶  là quan trọng nhất đối với các nhà khoa học.

Ba là, ngay trong trường hợp mà “thù lao” của những người cực giàu (nhất là trong giới tài chính, ngân hàng) là “kỷ lục” với lý do rằng mức độ thù lao ấy là cần thiết để những người này “cố gắng” hơn, nhiều nghiên cứu đã phát giác rằng cái “gói thù lao” kếch xù (làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng trong xã hội) đang được các đại công ty, các ngân hàng, quỹ đầu tư áp dụng, đã khiến những người này có những quyết định làm méo mó hơn, thay vì gia tăng hiệu quả của nền kinh tế.  Kinh tế học đã chứng minh rằng, vì thông tin và giám sát không bao giờ là đầy đủ, rất khó (gần như không thể) thiết kế một “gói thù lao” tối hảo (nhìn từ quan điểm quyền lợi cổ đông, đừng nói chi đến lợi ích toàn xã hội) cho lãnh đạo các ngân hàng, giám đốc các đại công ty.  

Ngoài những tác động (có thể gọi là vi mô) nói trên, sự cực giàu của một thiểu số còn có những ảnh hưởng vĩ mô tai hại: nó sẽ bóp méo tỷ lệ các loại hàng nhập khẩu. Những người cực giàu, với sức mua lớn, sẽ làm tăng nhu cầu nhập khẩu những món hàng xa xỉ (xe xịn, hàng hiệu).[6]  Việc này sẽ làm giảm giá trị nội tệ, và làm mắc hơn những loại hàng nhập khẩu mà đa số người tiêu dùng là có thu nhập thấp.

Ảnh hưởng xã hội của tầng lớp “siêu giàu” mới nổi

Đối với một số chế độ (như ở Trung Quốc) thì tình trạng cực kỳ bất bình đẳng có một hậu quả tai hại duy nhất là gây bất ổn trong xã hội, hăm doạ sự tồn tại của chế độ ấy. Nhận định này là đúng nhưng chưa đủ

● “Thu nhập tương đối” và “hạnh phúc con người”

Gần đây, một số nghiên cứu đã phát hiện rằng hạnh phúc con người còn tuỳ vào thu nhập tương đối (ngoài mức thu nhập tuyệt đối để thoả mãn những nhu cầu sinh tồn). Thu nhập càng chênh lệch thì những người có thu nhập trung bình, hoặc thấp, càng thấy “kém hạnh phúc”.  Tình trạng này càng trầm trọng khi những người có thu nhập cao lại thích phô trương, hào nhoáng, khiến những người có thu nhập kém hơn họ phải ganh tỵ, thèm muốn.

Một ảnh hưởng nữa là ở cơ hội tiến thủ của những người xuất thân từ gia đình có thu nhập thấp: Họ sẽ thất vọng, nản chí khi thấy rằng chỉ con cái nhà giàu là có nhiều cơ hội học trường giỏi (và nếu nước họ là chậm tiến thì sẽ được xuất ngoại du học).  Sau khi tốt nghiệp thì những “con cái nhà giàu” này tất nhiên sẽ ưu tiên có những địa vị béo bở trong xã hội, cho họ cơ hội làm giàu thêm. Cứ như thế, sự bất bình đẳng trong xã hội sẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

● Bất bình đẳng thu nhập và đời sống văn hoá

Trong một xã hội cực kỳ bất bình đẳng, và nhất là khi tài sản của những người cực giàu là phi pháp, hoặc những người này thiếu căn bản văn hoá, phô trương sự giàu có của mình một cách vô ý thức, thì đời sống văn hoá của toàn xã hội cũng sẽ bị xấu đi: Những lối ăn chơi phù phiếm, sa đoạ, xa xỉ, đua đòi hàng hiệu nhập khẩu (nhất là khi lối sống này không bị kết án mà còn được các phương tiện truyền thông đại chúng quảng bá, trầm trồ ngợi khen), sẽ cuốn hút toàn thể xã hội vào con đường ấy, ngày càng lệch xa những lối sống văn minh thật sự.


Phải làm gì?

Có những người cực đoan cho rằng sự xuất hiện của tầng lớp siêu giàu mới nổi là một hiện tượng tự nhiên, thậm chí có lợi cho xã hội, và những ai chống lại hiện tượng này chỉ là những kẻ ganh tỵ xấu nết... Theo những người cực đoan này, nhà nước không cần làm gì cả. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hiện tượng siêu giàu mới nổi không phải là “tự nhiên” mà là hậu quả của sự khôn lanh khai thác những “lỗ hổng” của thể chế, của nền kinh tế, và gây nhiều hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho chính sự phát triển của quốc gia, và rộng ra là cho mức độ an sinh của tuyệt đại đa số trong xã hội.

Đàng khác, không ai có thể khách quan mà nghĩ rằng thu nhập của mọi người trong xã hội đều phải như nhau. Một sự bất bình đẳng thu nhập nào đó là không thể tránh, thậm chí cần thiết. Vấn đề ở đây là sự xuất hiện một thiểu số cực giàu, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, mà thu nhập dù hiện tại có là hợp pháp, đã vượt quá xa tài sức và sự đóng góp của họ cho xã hội.

Hầu hết các nhà lãnh đạo trên thế giới, từ tổng thống Mỹ Barack Obama đền nguyên tổng bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, đếu ít nhiều nghĩ rằng nhà nước cần can thiệp để làm giảm sự bất bình đẳng thu nhập trong xã hội.  Một chính sách cấp thời có thể là tăng suất thuế đánh vào người giàu (như ông Obama hiện đề nghị).  Tuy nhiên, như đã trình bày trong bài này, một chính sách dài hạn phải là chấn chỉnh những méo mó kinh tế (ưu tiên gỡ bỏ những độc quyền, đặc lợi, chế độ “xin/cho”, và tạo một sân chơi bình đẳng cho mọi người). Sự tái cấu trúc thể chế này sẽ cực kỳ khó khăn vì chắc chắn nó sẽ gặp sự kháng cự mãnh liệt, công khai lẫn ngấm ngầm, của giai cấp cực giàu hiện hữu (cấu kết thành các “nhóm lợi ích”) với những thế lực tài chính, kinh tế, và vâng, chính trị nữa, vô cùng to lớn của họ.  Một sự tái cơ cấu như thế chỉ có thể thành công nếu nó không bị ảnh hưởng của bất cứ nhóm lợi ích nào, nhất là trong một thực trạng mà những nhóm lợi ích ấy lại “tay trong tay” với tham nhũng.

Trần Hữu Dũng
21/12/2012